65 năm thảm họa da cam: Đối thoại để thúc đẩy hành động
| [Infographic] Chăm lo nạn nhân chất độc da cam/dioxin: Chính sách và những hỗ trợ thiết thực Những người bạn Mỹ góp sức xoa dịu nỗi đau da cam |
Tọa đàm do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chủ trì, phối hợp với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA), Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET), Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam (Văn phòng 701) và Hội Việt - Mỹ tổ chức. Tham dự có đại diện các cơ quan, tổ chức trong nước, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, chuyên gia, nhà khoa học, nạn nhân chất độc da cam và bạn bè quốc tế dự trực tiếp, trực tuyến.
![]() |
| Ông Đồng Huy Cương, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, phát biểu khai mạc tọa đàm. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Phát biểu khai mạc, ông Đồng Huy Cương, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, nhấn mạnh chiến tranh đã kết thúc nhưng hậu quả vẫn dai dẳng trong nhiều gia đình, trên nhiều vùng đất của Việt Nam. Nhiều nạn nhân cần được chăm sóc y tế, phục hồi chức năng và hỗ trợ xã hội suốt đời. Vì vậy, khắc phục hậu quả chất độc hóa học do chiến tranh để lại là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài.
Ghi nhận những kết quả hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật và giải quyết hậu quả chiến tranh, ông Đồng Huy Cương cho rằng đây là minh chứng cho thấy những vấn đề tồn đọng từ quá khứ có thể trở thành lĩnh vực hợp tác thực chất, mang lại lợi ích cho người dân và góp phần củng cố lòng tin giữa hai nước. Ông mong muốn tọa đàm tập trung trao đổi các giải pháp chăm lo nạn nhân, xử lý ô nhiễm, huy động nguồn lực và phát huy vai trò đối ngoại nhân dân trong khắc phục hậu quả chiến tranh.
Trong phát biểu đề dẫn, Đại sứ Bùi Thế Giang, Phó Chủ tịch Hội Việt - Mỹ, nhắc tới ba hậu quả lớn mà Việt Nam vẫn đang phải giải quyết: vật liệu nổ còn sót lại, công tác tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, cùng hậu quả chất độc da cam/dioxin đối với con người và môi trường.
Theo ông, những công việc này đòi hỏi sự cam kết, chung tay lâu dài của các bên liên quan. Hội Việt - Mỹ kêu gọi Chính phủ, Quốc hội, doanh nghiệp và nhân dân Hoa Kỳ tiếp tục đồng hành với Việt Nam; đồng thời đề nghị các công ty hóa chất Hoa Kỳ từng tham gia sản xuất hóa chất độc được sử dụng trong chiến tranh thể hiện trách nhiệm xã hội bằng những chương trình hỗ trợ nạn nhân và khắc phục ô nhiễm cụ thể.
“Trách nhiệm ấy cần được cụ thể hóa bằng chương trình, bằng nguồn lực và bằng kết quả có thể đánh giá được”, Đại sứ Bùi Thế Giang nhấn mạnh.
Nỗi đau chưa khép lại
Trình bày tổng quan về hậu quả chất độc da cam/dioxin, Đại tá Nguyễn Quốc Hùng, Trợ lý đối ngoại NACCET, cho biết giai đoạn 1961-1971, quân đội Mỹ đã phun rải khoảng 80 triệu lít chất diệt cỏ và làm rụng lá tại miền Nam Việt Nam, trong đó khoảng 61% là chất da cam. Ước tính 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, hơn 3 triệu người là nạn nhân chất độc da cam.
Hậu quả không chỉ đặt ra nhu cầu chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và hỗ trợ sinh kế lâu dài cho nạn nhân, mà còn hiện hữu tại những khu vực ô nhiễm dioxin cần tiếp tục xử lý. Riêng sân bay Biên Hòa có khoảng 500.000 m³ đất và trầm tích ô nhiễm. Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong xử lý ô nhiễm tại Đà Nẵng, A So và đang tiếp tục triển khai các nhiệm vụ tại Biên Hòa, Phù Cát.
![]() |
| Chị Vương Thị Quyên, nạn nhân chất độc da cam, phát biểu. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Chị Vương Thị Quyên (sinh năm 1989, quê Quảng Trị) là một trong những nạn nhân chất độc da cam thế hệ thứ hai. Chia sẻ tại tọa đàm, chị cho biết cha chị là cựu chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường Đông Nam Bộ. Từ năm 9 tuổi, tình trạng u gù, cong vẹo cột sống khiến chị phải chịu nhiều đau đớn.
“Tôi đã từng hỏi: ‘Tại sao lại là mình?’. Nhưng rồi tôi chọn cách đứng dậy”, chị Quyên nói.
Chị tiếp tục việc học và năm 2014 giành được học bổng du học tại Ấn Độ, sau đó tốt nghiệp thạc sĩ báo chí loại giỏi. Trở về Việt Nam, chị tham gia dạy tin học cho những người cùng cảnh ngộ tại Trung tâm Bảo trợ xã hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.
Công việc này giúp chị Quyên chia sẻ những kiến thức, kỹ năng mà mình đã tích lũy được với những người khuyết tật khác. Chị mong họ có thể tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập và chủ động hơn trong cuộc sống.
Tại tọa đàm, chị kêu gọi thế hệ trẻ tham gia hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam bằng tri thức, công nghệ, sức sáng tạo và các hoạt động đối ngoại nhân dân. Qua chính trải nghiệm của mình, chị mong những người chịu hậu quả chiến tranh có thêm cơ hội học tập, lao động và đóng góp cho cộng đồng.
Cuộc gặp mở đường và đề xuất “ba bước, ba năm”
Nhắc lại những nỗ lực đầu tiên nhằm đưa vấn đề chất độc da cam vào hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ, bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Trưởng Nhóm đối thoại kênh 2 Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin, kể lại một cuộc gặp từ năm 2006.
“Một ngày nắng đẹp, anh Charles đã đến gặp tôi tại Ban Đối ngoại Quốc hội với tư cách đại diện Quỹ Ford”, bà kể lại.
Người bà nhắc đến là Tiến sĩ Charles Bailey, khi đó là Giám đốc Văn phòng Quỹ Ford tại Hà Nội. Cuộc gặp diễn ra trước chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush nhân Hội nghị Cấp cao APEC năm 2006. Ông Bailey đến trao đổi về sáng kiến thành lập một nhóm đối thoại giữa những người có uy tín của hai nước nhằm thúc đẩy giải quyết hậu quả chất độc da cam/dioxin.
Theo bà Tôn Nữ Thị Ninh, sáng kiến xuất phát từ Quỹ Ford, với vai trò khởi xướng của bà Susan Berresford và sự thúc đẩy trực tiếp của ông Charles Bailey. Bà đặc biệt trân trọng thiện chí, sự chủ động của những người bạn Hoa Kỳ khi tìm cách đưa một vấn đề còn nhạy cảm vào chương trình hợp tác song phương.
Thời điểm đó, Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa quan hệ được hơn một thập kỷ, nhưng chất độc da cam vẫn là vấn đề khó trong quan hệ hai nước. Những khác biệt về nhận thức, khoa học và trách nhiệm khiến việc tìm kiếm tiếng nói chung không dễ dàng.
Nhóm Đối thoại kênh 2 Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin chính thức được thành lập vào tháng 2/2007, với sự tham gia của các nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội và những người có uy tín của Việt Nam, Hoa Kỳ. Nhóm hoạt động như một kênh đối thoại nhân dân, không trực tiếp thực hiện dự án hay gây quỹ. Các thành viên tập trung nâng cao nhận thức về hậu quả chất độc da cam, đề xuất các hướng hỗ trợ người bị ảnh hưởng, xử lý ô nhiễm dioxin và vận động sự quan tâm của công chúng, giới hoạch định chính sách Hoa Kỳ.
Bà Tôn Nữ Thị Ninh đánh giá việc thành lập Nhóm là một sáng kiến đối ngoại nhân dân kịp thời, linh hoạt, góp phần thúc đẩy hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh trong tiến trình phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. “Di sản da cam nhiều năm là vấn đề chia rẽ chúng ta, nay lại là vấn đề đưa chúng ta lại gần nhau”, bà nói.
![]() |
| Trung tướng Nguyễn Hữu Chính, Chủ tịch VAVA, phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Ở lĩnh vực chăm lo nạn nhân, nhiều chương trình đã được triển khai với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tại tọa đàm, Trung tướng Nguyễn Hữu Chính, Chủ tịch VAVA, cho biết công tác chăm lo nạn nhân những năm qua nhận được sự chung tay của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, nhà hảo tâm, đồng bào trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế.
Từ năm 2004 đến nay, các cấp hội trong cả nước đã vận động được hơn 5.100 tỷ đồng để chăm sóc, hỗ trợ nạn nhân. Nguồn lực này góp phần xây dựng, sửa chữa hơn 15.000 căn nhà, tạo việc làm cho hơn 53.000 nạn nhân, hỗ trợ sinh kế cho hàng vạn gia đình, cùng nhiều hoạt động chăm sóc và trợ giúp đời sống.
Bên cạnh huy động nguồn lực trong nước, Hội tích cực kết nối với các tổ chức và cá nhân quốc tế. Theo Trung tướng Nguyễn Hữu Chính, từ năm 2024 đến nay, Trung ương Hội đã tiếp và làm việc với 150 đoàn khách quốc tế, mở rộng quan hệ với các tổ chức nhân đạo, cựu chiến binh vì hòa bình và nhiều đối tác tại Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Một trường hợp được ông nhắc đến là hợp tác với Quỹ BOM Foundation của Hàn Quốc. Tháng 8/2026, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Hội Hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam quốc tế Hàn Quốc (HOAVAVA) và Quỹ BOM Foundation đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác trong thời hạn 5 năm. Các bên hướng tới huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp và nhà hảo tâm để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học tập và sinh kế cho nạn nhân.
Dù đã có nhiều nguồn hỗ trợ, nhu cầu chăm sóc nạn nhân vẫn rất lớn. Đặc biệt, ở những gia đình có người khuyết tật nặng, việc chăm sóc thường kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến công việc và thu nhập của các thành viên khác. Xác định đúng những gia đình cần được ưu tiên, lựa chọn hình thức trợ giúp phù hợp và duy trì sự hỗ trợ đủ lâu là những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Gần 20 năm sau khi Nhóm đối thoại kênh 2 Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin được thành lập, Tiến sĩ Charles R. Bailey tiếp tục đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm giúp các chương trình hỗ trợ tiếp cận được nhiều nạn nhân chất độc da cam hơn. Tham dự tọa đàm trực tuyến, ông nhắc lại vai trò của Quỹ Ford trong việc thúc đẩy hợp tác về chất độc da cam từ hai thập kỷ trước, bao gồm hỗ trợ những hoạt động xử lý ô nhiễm dioxin giai đoạn đầu, thí điểm trợ giúp nạn nhân và góp phần thành lập Nhóm đối thoại kênh 2 Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin.
Theo ông Bailey, sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các cựu chiến binh, nhà hoạt động xã hội và những người bạn Hoa Kỳ đã góp phần thúc đẩy tiến trình hợp tác. Tuy nhiên, số nạn nhân chất độc da cam trực tiếp được hưởng lợi từ các chương trình hỗ trợ của Hoa Kỳ vẫn còn hạn chế.
Dẫn một nghiên cứu đánh giá năm 2024, ông cho biết trong 6 năm được khảo sát, các chương trình hỗ trợ về sức khỏe và người khuyết tật của Hoa Kỳ đã tiếp cận chưa tới 20% số người được phía Việt Nam xác định là nạn nhân chất độc da cam. Trong số những người nhận hỗ trợ trực tiếp từ các chương trình được đánh giá, hơn 80% không thuộc diện được Việt Nam công nhận là nạn nhân chất độc da cam.
Từ thực tế đó, ông đề nghị Hoa Kỳ ghi nhận rõ ràng hơn những người được Việt Nam công nhận là nạn nhân chất độc da cam trong các chương trình hỗ trợ. Theo ông, việc ghi nhận này không nhất thiết đồng nghĩa với thừa nhận trách nhiệm pháp lý, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với nạn nhân và tạo cơ sở để hướng nguồn lực tới đúng đối tượng.
Ông Bailey gợi ý Hoa Kỳ có thể công khai xác định rằng các chương trình hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam bao gồm cả những người được Việt Nam công nhận là nạn nhân chất độc da cam, thay cho cách diễn đạt hỗ trợ “không phân biệt nguyên nhân” đang được sử dụng.
![]() |
| Nhiều bạn bè quốc tế tham dự tọa đàm trực tuyến. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Để đưa đề xuất thành hành động, ông Bailey nêu ba bước thực hiện. Trước hết, cần hỗ trợ VAVA và NACCET cập nhật danh sách các hộ gia đình có người khuyết tật do hậu quả chiến tranh, đáp ứng những tiêu chí do Việt Nam quy định đối với nạn nhân chất độc da cam và vật liệu nổ chưa nổ. Trên cơ sở danh sách này, lựa chọn những hộ nghèo có thành viên khuyết tật nặng, cần người thân chăm sóc toàn thời gian tại các địa phương từng bị phun rải chất độc hóa học nặng nề.
Theo ông Bailey, Hoa Kỳ vừa dành 71 triệu USD cho các dự án mới liên quan đến chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ người khuyết tật trong lĩnh vực chất độc da cam. Ông đề xuất dành một nửa nguồn kinh phí này để hỗ trợ trực tiếp nhóm gia đình được ưu tiên, phần còn lại đầu tư củng cố hệ thống dịch vụ trợ giúp xã hội. Đây là phương án phân bổ nguồn lực do ông đề xuất.
Bước thứ ba là duy trì hỗ trợ trực tiếp cho các gia đình trong ba năm, thông qua những dịch vụ được thiết kế theo hoàn cảnh và nhu cầu cụ thể của từng hộ. Các hình thức hỗ trợ có thể bao gồm cải tạo nhà ở phù hợp với người khuyết tật, hoạt động trị liệu, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn kinh doanh nhỏ cho thành viên có khả năng lao động và những dịch vụ xã hội cần thiết khác.
Ông cho rằng việc hỗ trợ phải tính đến hoàn cảnh của cả gia đình. Một người khuyết tật nặng có thể cần được chăm sóc toàn thời gian, khiến người thân phải giảm hoặc từ bỏ công việc để ở nhà chăm sóc. Vì vậy, chương trình hỗ trợ cần giúp gia đình có thêm khả năng tạo thu nhập và tự chủ về lâu dài.
“Hỗ trợ trực tiếp chính là hình thức tiệm cận nhất với sự bù đắp tổn thất cho các nạn nhân. Nó trao quyền cho các nạn nhân và gia đình họ khả năng tự chủ, tự lực vươn lên”, ông Bailey nhấn mạnh.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp, cho rằng cần tiếp cận việc khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Một nạn nhân có thể đồng thời cần chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ sinh kế. Nếu những nhu cầu này được giải quyết qua các cơ chế thiếu phối hợp, người dân sẽ phải tự xoay xở giữa nhiều thủ tục và cơ quan khác nhau.
Ông đề nghị tăng cường sự liên thông giữa ba lĩnh vực: xử lý ô nhiễm và phòng ngừa phơi nhiễm; chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ cộng đồng. Hiệu quả khắc phục hậu quả chất độc da cam cần được đánh giá qua những cải thiện thực tế trong đời sống người bị ảnh hưởng, bên cạnh kết quả xử lý môi trường và huy động kinh phí.
Về xử lý ô nhiễm, Tiến sĩ Lê Kế Sơn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, đề nghị hai nước có chiến lược và kế hoạch hợp tác rõ ràng hơn, nhất là đối với những khu vực còn tồn lưu dioxin như Biên Hòa. Ông cho rằng cần xác định mục tiêu, lộ trình và kết quả cụ thể, tránh để công việc khắc phục hậu quả chiến tranh kéo dài mà chưa có điểm kết thúc rõ ràng.
Ông Paul Cox, điều phối viên chương trình về chất độc da cam của tổ chức Cựu chiến binh vì Hòa bình Hoa Kỳ, lưu ý nguy cơ ô nhiễm tại một số khu vực quanh các căn cứ quân sự cũ chưa được khảo sát đầy đủ. Theo ông, ngoài những điểm nóng đã được xác định và đang xử lý, Việt Nam và Hoa Kỳ cần quan tâm hơn đến việc điều tra, đánh giá các khu vực có nguy cơ để bảo vệ người dân trước khả năng tiếp tục phơi nhiễm.
Các ý kiến tại tọa đàm cũng đề cập vai trò của những người bạn Hoa Kỳ, các tổ chức xã hội và thế hệ trẻ trong việc duy trì sự quan tâm đối với hậu quả chiến tranh, vận động nguồn lực và kết nối những chương trình hỗ trợ thiết thực.
![]() |
| Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Tọa đàm đã thông qua Lời kêu gọi 65 năm thảm họa da cam/dioxin ở Việt Nam. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, VAVA, NACCET và Hội Việt - Mỹ kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước, các chính phủ, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, quỹ nhân đạo, giới khoa học, các nhà hoạt động xã hội và bạn bè thế giới tiếp tục tham gia chăm sóc nạn nhân, xử lý ô nhiễm dioxin, phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh.
Lời kêu gọi tập trung vào ba nội dung: vì nạn nhân chất độc da cam; vì môi trường và thế hệ tương lai; vì trách nhiệm và hòa bình. Trong đó, các tổ chức mong muốn Hoa Kỳ cùng các đối tác liên quan tiếp tục có những đóng góp thiết thực, lâu dài và tương xứng với nhu cầu khắc phục hậu quả.
“Ghi nhớ quá khứ không phải để níu giữ hận thù, mà để biến sự thấu hiểu thành trách nhiệm, lòng nhân ái thành hành động và hợp tác quốc tế thành những đổi thay thiết thực”, Lời kêu gọi nhấn mạnh.
Những tiếng nói về trách nhiệm khắc phục hậu quả da camYếu tố cốt lõi của công lý chuyển tiếp là nói lên sự thật. Hoa Kỳ cuối cùng đã thẳng thắn thừa nhận những tác hại của hóa chất đối với chính công dân mình và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cần thiết. Tuy nhiên, phía Hoa Kỳ vẫn chưa có sự thẳng thắn tương tự trong việc thừa nhận những tổn hại đối với người dân Việt Nam và cung cấp các dịch vụ chăm sóc tương ứng. Hoa Kỳ có các chương trình hỗ trợ y tế và người khuyết tật tại Việt Nam, nhưng lại sử dụng cụm từ ‘không phân biệt nguyên nhân’, dù chúng ta đều biết lý do của những hỗ trợ đó là chất độc da cam. Nếu thẳng thắn hơn về lý do hỗ trợ, Hoa Kỳ có thể tập trung thêm nguồn lực cho những người chịu tổn hại rõ rệt bởi chất độc da cam. Một câu hỏi từng được đặt ra nhiều lần trong nhóm đối thoại là: “Thế nào là đủ?”. Nếu muốn tiến tới hòa giải, chúng ta cần làm gì và điều gì là thực tế, khả thi đối với Hoa Kỳ? Hai nước cần thảo luận vấn đề này ngay từ bây giờ, bởi tinh thần trách nhiệm khắc phục hậu quả có thể phai nhạt trong thập kỷ tới. Bà Susan Berresford, nguyên Chủ tịch Quỹ Ford Chính bác sĩ Lê Cao Đài là người đã giới thiệu tôi với gia đình đầu tiên mà tôi có dịp gặp gỡ chịu ảnh hưởng của chất độc da cam. Tôi muốn nhấn mạnh rằng khi người Mỹ biết về những tác động của chất độc da cam tại Việt Nam, họ thực sự mong muốn làm điều gì đó để giúp đỡ. Khoảng 20 năm trước, bà Nancy, vợ của cựu binh Mỹ Bob Feldman, đã liên hệ với tôi để phối hợp với Hội Chữ thập đỏ hỗ trợ trực tiếp những người bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam tại Việt Nam. Họ muốn thể hiện rằng người Mỹ quan tâm và thực sự mong muốn giúp đỡ. Trong 20 năm qua, gia đình cùng những người thân, bạn bè của ông Bob đã đóng góp hơn 500.000 USD. Thông qua hợp tác với Hội Chữ thập đỏ, chúng tôi đã hỗ trợ hơn 650 gia đình trên khắp Việt Nam. Chất độc da cam ảnh hưởng đến cả gia đình, chứ không chỉ những người trực tiếp gặp vấn đề về sức khỏe. Tôi mong muốn có thêm những hoạt động hợp tác nhân dân như vậy và sẽ tiếp tục vận động các thành viên Quốc hội Hoa Kỳ về sự cần thiết của nguồn kinh phí hỗ trợ giải quyết vấn đề chất độc da cam. Bà Susan Hammond, nhà sáng lập, Giám đốc điều hành tổ chức War Legacies Project Ngày 21/9, tôi tham dự một chương trình văn hóa Việt Nam tại Brooklyn Academy of Music, New York. Trên chuyến tàu điện ngầm sau sự kiện, tôi tình cờ gặp hơn một chục thành viên Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Columbia cũng vừa tham dự chương trình. Các bạn rất hào hứng, sôi nổi. Cuộc gặp khiến tôi nhận thấy đã có sự thay đổi ở thế hệ trẻ trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Tôi hy vọng VAVA và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam sẽ xây dựng chương trình để những người Mỹ gốc Việt trẻ tuổi đến thăm Việt Nam, tận mắt chứng kiến những bước phát triển của đất nước sau chiến tranh, đồng thời tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ giải quyết những hậu quả chiến tranh còn tồn tại. Đây là thời điểm thích hợp để thu hút những người trẻ ấy tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh trên quê hương nguồn cội của mình. Ông Ron Carver, nhà hoạt động hòa bình Hoa Kỳ |
Tin bài khác
Xe "Min khờ": Dấu ấn Belarus trong đời sống người Việt
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam giành 7 giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng









