Chuyển nguồn lực quốc tế thành sức mạnh biển của Việt Nam
| Tiếp nối truyền thống, viết tiếp thành công trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Mở rộng đối tác, kết nối hợp tác thiết thực |
Diễn đàn với chủ đề “Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh” do Học viện Ngoại giao chủ trì tổ chức. Sự kiện quy tụ lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; đại diện các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, đối tác phát triển; các chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp trong nước, quốc tế. Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội dự và phát biểu khai mạc.
Sự kiện diễn ra trong thời điểm Việt Nam bắt đầu triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cùng 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhân dân và doanh nghiệp trong quá trình phát triển.
![]() |
| Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh phát biểu khai mạc Diễn đàn. (Ảnh: Bảo Ngọc). |
Biến nguồn lực hợp tác thành năng lực nội tại
Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh nhấn mạnh Nghị quyết số 20-NQ/TW đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy về biển, xác định biển là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Theo ông, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu dài, gắn với khát vọng phát triển của đất nước.
Diễn đàn vì vậy được đặt trong yêu cầu không chỉ trao đổi về tiềm năng biển, mà tập trung tìm kiếm những phương thức hợp tác có thể tạo ra kết quả cụ thể. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu làm rõ hợp tác và hội nhập quốc tế có thể đóng góp như thế nào vào việc triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW, đồng thời xác định vai trò của Việt Nam trong việc góp phần xây dựng không gian biển hòa bình, hợp tác, kết nối và phát triển bền vững.
Tại phiên định hướng cấp cao “Từ Chiến lược biển đến chương trình hành động 2026-2030”, các đại biểu trao đổi về những ưu tiên trong triển khai Nghị quyết, khả năng huy động nguồn lực và các hướng thúc đẩy hợp tác quốc tế. Một yêu cầu được nhấn mạnh là hợp tác phải mang lại những kết quả cụ thể về vốn, công nghệ, tri thức, nhân lực, hạ tầng, quản trị, thị trường và bảo vệ môi trường; đồng thời nâng cao khả năng tham gia và đóng góp của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển và đại dương.
![]() |
| Diễn đàn Biển Việt Nam 2026. (Ảnh: Học viện Ngoại giao) |
Sau phiên định hướng cấp cao, ba phiên chuyên đề tập trung vào huy động nguồn lực và tăng cường kết nối quốc tế; khoa học, công nghệ và quản trị biển; hợp tác quốc tế của địa phương gắn với bảo vệ môi trường và phát huy giá trị cộng đồng ven biển. Toàn Diễn đàn có hơn 20 tham luận cùng hàng chục lượt trao đổi, gợi mở chính sách.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được nhiều đại biểu xác định là những động lực quan trọng để tạo bước phát triển mới cho kinh tế biển. Các ý kiến đề cập việc nghiên cứu hình thành các cụm du lịch biển liên tỉnh, phát triển các trung tâm du lịch biển đa chức năng thành những cực tăng trưởng, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh.
Hợp tác quốc tế cũng được nhìn nhận từ góc độ phát triển con người và cộng đồng ven biển. Bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, khẳng định Liên hợp quốc cam kết đồng hành với Việt Nam trong triển khai chương trình hành động, nâng cao năng lực thực thi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ), đồng thời hỗ trợ huy động tài chính, công nghệ và thúc đẩy lợi ích dành cho cộng đồng ven biển, ngư dân, phụ nữ và thanh niên.
![]() |
| Bà Pauline Tamesis - Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: Bảo Ngọc). |
Phát biểu bế mạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho rằng một yêu cầu nổi lên từ các cuộc thảo luận là hợp tác quốc tế phải được chuyển hóa thành năng lực của chính Việt Nam. Vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài chỉ trở thành sức mạnh biển khi giúp hình thành đội ngũ, dữ liệu, quy trình và khả năng tự vận hành ở trong nước.
Bốn điểm nhấn trong hợp tác và hội nhập quốc tế về biển
Qua các phát biểu định hướng và thảo luận chuyên đề, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường khái quát bốn điểm nhấn:
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường phát biểu. (Ảnh: Bộ Ngoại giao) |
Thứ nhất, hợp tác và hội nhập quốc tế là một trụ cột của việc phát huy sức mạnh biển. Trong bối cảnh các thách thức trên biển ngày càng phức tạp và xuyên biên giới, không có quốc gia nào có thể giải quyết các vấn đề bằng hành động đơn phương. Thứ trưởng chỉ ra một điểm đáng lưu ý: Lợi thế về các vị trí trên bản đồ hàng hải khu vực là điều kiện, chưa phải là kết quả. Vị trí chỉ thực sự trở thành vị thế khi được chuyển hóa thành những đóng góp và chức năng cụ thể mà Việt Nam có thể đảm nhận tốt.
Thứ hai, chuyển hóa hợp tác và hội nhập quốc tế thành nguồn lực cho phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có sức cạnh tranh toàn cầu. Việt Nam cần chủ động hơn trong kiến tạo hợp tác và lựa chọn những dự án đem lại nguồn đầu tư, góp phần chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và dữ liệu biển làm nền tảng cho quản trị biển hiện đại. Dữ liệu và tri thức biển đang trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị, dự báo và hoạch định chính sách. Hợp tác khoa học, công nghệ không nên dừng ở trao đổi học thuật, mà phải tạo ra công nghệ, sản phẩm, mô hình quản trị và năng lực mới cho Việt Nam.
Thứ tư, đặt con người, cộng đồng, doanh nghiệp và hệ sinh thái vào trung tâm của hợp tác và hội nhập quốc tế vì một không gian biển bền vững. Hợp tác quốc tế cần giúp người dân tiếp cận công nghệ xanh, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tạo sinh kế bền vững; đồng thời phát huy văn hóa biển như một nguồn lực mềm kết nối Việt Nam với thế giới.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường, hợp tác quốc tế cần góp phần nâng cao năng lực trong nước; và từ năng lực đó, Việt Nam có thể đóng góp thiết thực hơn cho khu vực và cộng đồng quốc tế. Ông nhắc lại định hướng thảo luận tại Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Một Việt Nam mạnh hơn về biển cũng phải là một Việt Nam đóng góp nhiều hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường bày tỏ kỳ vọng các trao đổi sẽ được tiếp tục cụ thể hóa thành những chương trình nghiên cứu, đề án chính sách và dự án hợp tác với các đối tác. Bộ Ngoại giao sẽ tiếp thu các ý kiến, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tổng hợp khuyến nghị trình cấp có thẩm quyền phục vụ triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW; đồng thời kết nối những đề xuất cụ thể với các đối tác quan tâm và nghiên cứu đưa Diễn đàn Biển Việt Nam trở thành hoạt động thường niên.
![]() |
| Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: Bảo Ngọc) |
Kết thúc Diễn đàn, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường bày tỏ kỳ vọng các trao đổi sẽ được tiếp tục cụ thể hóa thành những chương trình nghiên cứu, đề án chính sách và dự án hợp tác với các đối tác. Bộ Ngoại giao sẽ tiếp thu các ý kiến, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tổng hợp khuyến nghị trình cấp có thẩm quyền phục vụ triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW; đồng thời kết nối những đề xuất cụ thể với các đối tác quan tâm và nghiên cứu đưa Diễn đàn Biển Việt Nam trở thành hoạt động thường niên.
| TS Marcel Marchand, chuyên gia Viện nghiên cứu công nghệ Deltares (Hà Lan): Quy hoạch tổng hợp để tăng khả năng chống chịu vùng ven biển Về cơ bản thách thức đối với khả năng chống chịu của vùng ven biển Việt Nam là vấn đề về không gian. Vùng ven biển đang bị “thu hẹp” khi mực nước biển dâng, trong khi các hoạt động phát triển của con người ngày càng lấn về phía đường bờ. Cùng lúc, khả năng chống chịu tự nhiên của vùng ven biển, được tạo nên bởi các đụn cát, rừng ngập mặn, đầm phá và vùng triều, đang ngày càng suy giảm. Một trong những giải pháp là thiết lập ranh giới lùi xây dựng; một giải pháp khác là áp dụng các biện pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng ngập mặn và bổ sung cát cho bãi biển. Cả hai giải pháp đều đòi hỏi sự thay đổi về tư duy: không phải mọi vấn đề dọc bờ biển đều có thể giải quyết bằng các công trình kỹ thuật cứng. Việt Nam cần quy hoạch tổng hợp thực sự đối với vùng ven biển, trong đó tiếng nói của cộng đồng địa phương được lắng nghe và phát triển kinh tế không làm suy giảm khả năng chống chịu của vùng bờ. Chuẩn đô đốc Phạm Minh Tuấn, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân: Nâng cao năng lực bảo vệ, tự chủ và hợp tác trên biển Giai đoạn 2026-2030 cần tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ. Trước hết, nâng cao năng lực bảo vệ và quản trị biển, tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” trên biển; kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế biển. Thứ hai, cần phát triển năng lực tự chủ về khoa học - công nghệ và kinh tế biển ứng dụng, ưu tiên hạ tầng dữ liệu, quan trắc, giám sát biển; gắn đầu tư công nghệ với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ ba, lấy nhân dân làm trung tâm và chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng trên hướng biển, tập trung vào các lĩnh vực thiết thực như an ninh, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển và chia sẻ thông tin. Bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam: Phát huy vai trò cầu nối và kinh nghiệm biển của Việt Nam Việt Nam có thể đóng góp cho các nỗ lực toàn cầu ở bốn phương diện. Trước hết là vai trò cầu nối giữa Đông Nam Á, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng lớn và các quốc đảo Thái Bình Dương trên những lợi ích chung về UNCLOS 1982, nghề cá bền vững và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Việt Nam cũng có thể chia sẻ kinh nghiệm về hiện đại hóa nghề cá, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); kinh nghiệm ứng phó với nước biển dâng, xâm nhập mặn và những tác động của biến đổi khí hậu đối với cộng đồng, hệ sinh thái. Đồng thời, Việt Nam có thể góp tiếng nói thúc đẩy sự cân bằng giữa các cơ hội phát triển kinh tế mới với cơ sở khoa học, tầm nhìn dài hạn và yêu cầu công bằng. |
Điều gì tạo nên sức hút của một địa phương trong mắt bạn bè quốc tế? Đối với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị thành phố Hà Nội, đó không chỉ là các chương trình giao lưu mà còn là khả năng kể câu chuyện về vùng đất, con người và văn hóa bằng những trải nghiệm chân thực, từ đó biến bản sắc địa phương thành lợi thế trong hoạt động đối ngoại nhân dân. |
Theo bà Vũ Nga, Giám đốc Vận hành các chương trình của tổ chức World Vision International tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, phối hợp và chia sẻ thông tin với các tổ chức quốc tế mà còn mở ra những lĩnh vực hợp tác mới, từ nâng cao kỹ năng số đến hỗ trợ người thụ hưởng trên không gian mạng. |
Tin bài khác
Cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia hoàn thành tập huấn đo đạc, lập hải đồ
Từ Hương Sơn Bắc Kinh đến những nhịp cầu hữu nghị nơi biên giới









