Ngoại giao nhân dân nhằm củng cố quyền lãnh đạo tư tưởng của chủ nghĩa quốc tế: Ví dụ thực tiễn về tình đoàn kết giữa Việt Nam và Cuba
| Ngoại giao nhân dân góp phần làm sâu sắc quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ Ngoại giao nhân dân thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị Việt - Trung |
Nhiều thập kỷ hữu nghị sâu sắc đã góp phần định hình và củng cố quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba. Nhìn từ góc độ ba trụ cột trong chính sách đối ngoại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - ngoại giao nhà nước, ngoại giao Đảng và ngoại giao nhân dân - có thể thấy ba phương diện chính trị quan trọng được kết nối chặt chẽ với nhau [1], bổ sung cho nhau và tạo nên những sức mạnh cộng hưởng rõ rệt trong thực tiễn đối ngoại xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, những kết quả thực tiễn của chính sách quốc tế chủ nghĩa cho thấy điều kiện sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt. Các dự án viện trợ và hợp tác cụ thể giữa Việt Nam và Cuba không chỉ đóng vai trò là nguồn hỗ trợ thiết thực trong những thời kỳ khủng hoảng sâu sắc, mà còn góp phần giảm bớt khó khăn, xoa dịu đau khổ của nhân dân và củng cố năng lực hành động của các chính phủ xã hội chủ nghĩa trong việc bảo vệ, chăm lo và nâng cao đời sống nhân dân.
Thứ ba, ngoại giao nhân dân góp phần vào sự phát triển quyền lãnh đạo tư tưởng của chủ nghĩa quốc tế. Việc đưa các tổ chức quần chúng và nhân dân tham gia vào thực tiễn chính trị có tác động tích cực đến sức mạnh mềm của chính phủ xã hội chủ nghĩa, bởi nó củng cố vị thế, uy tín và sự gắn bó của chính phủ trong lòng nhân dân. Thông qua sự tham gia chủ động vào các hoạt động đoàn kết quốc tế, nhân dân không chỉ tiếp nhận các giá trị chính trị một cách thụ động, mà còn trực tiếp tham gia vào việc thực hiện, lan tỏa và định hình những giá trị ấy trong đời sống xã hội. Điều này góp phần nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, đồn thời củng cố lòng tin và sự gắn bó của họ với sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thông qua chính kinh nghiệm tham gia và hành động để định hình thế giới xung quanh mình.
![]() |
| Chủ tịch nước Lương Cường và Phu nhân cùng Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel Bermúdez và Phu nhân tham quan trưng bày ảnh 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba, ngày 01/9/2025 tại Hà Nội. (Ảnh: Đinh Hòa) |
Theo nghĩa đó, bài viết này khái niệm hóa ngoại giao nhân dân như một sự bổ sung quan trọng cho ngoại giao nhà nước và ngoại giao Đảng, bởi ngoại giao nhân dân có khả năng đưa tình đoàn kết quốc tế thấm sâu vào ý thức xã hội của cộng đồng. Dựa trên lý thuyết về quyền lãnh đạo tư tưởng của nhà Marxist người Ý Antonio Gramsci, bài viết chỉ ra rằng tình đoàn kết quốc tế không chỉ được tổ chức thông qua các kênh ngoại giao chính thức của nhà nước và Đảng, mà còn được neo giữ trong đời sống xã hội thông qua sự tham gia tích cực của nhân dân. Bằng cách đó, ngoại giao nhân dân củng cố sức hấp dẫn chính trị của chính sách đối ngoại xã hội chủ nghĩa, đồng thời làm cho thực tiễn quốc tế chủ nghĩa được tiếp nhận, thực hành và củng cố trong ý thức của quần chúng nhân dân.
Từ góc độ lịch sử, quá trình phát triển của quyền lãnh đạo tư tưởng này trở nên rõ ràng và có thể nhận thấy trong chính lịch sử quan hệ giữa hai nước: Việt Nam và Cuba cùng chia sẻ một di sản chung, một ký ức lịch sử chung và những kinh nghiệm đấu tranh tương đồng. Mặc dù khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia là rất lớn, vượt qua nhiều đại dương và lục địa, mối gắn bó giữa Việt Nam và Cuba vẫn đặc biệt bền chặt, qua đó hình thành một quan hệ đoàn kết anh em mang tính độc đáo trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại. Mối quan hệ này được xây dựng và củng cố thông qua ba trụ cột trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, đồng thời tương ứng với những nguyên tắc của Cuba về tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chính sự kết hợp đó phản ánh rõ ba luận điểm đã được trình bày ở trên: tình đoàn kết quốc tế mang lại kết quả vật chất và tinh thần cụ thể, củng cố vị thế quốc tế của hai quốc gia, và thông qua ngoại giao nhân dân, được neo giữ sâu sắc trong ý thức xã hội của nhân dân hai nước.
Tình đoàn kết của Cuba đối với Việt Nam
Ngay từ trước đó, José Martí, nhà tư tưởng mở đường cho Cách mạng Cuba, đã viết trong La edad de oro - một tạp chí nhằm truyền đạt cho trẻ em tầm quan trọng của chân lý, công lý và bình đẳng, và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục mang ý nghĩa giáo dục ấy - về cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Việt Nam chống lại áp bức thuộc địa. Trong tác phẩm của mình, ông nhắc đến Việt Nam dưới tên gọi “Adam”, qua đó thể hiện sự quan tâm sớm đối với cuộc đấu tranh của một dân tộc xa xôi nhưng cùng chung khát vọng giải phóng [2].
Nhận thức rằng tình đoàn kết có thể vượt qua hàng nghìn cây số, vượt qua biển cả, lục địa và mọi khoảng cách địa lý vẫn tiếp tục sống động nhiều thập kỷ sau đó. Chính trong tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo Cuba María Rojas vào năm 1969:
“Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng nghìn cây số, nhưng trái tim của nhân dân hai nước gần gũi như anh em trong cùng một gia đình"[3].
Một tuyên bố có ý nghĩa sâu sắc không kém của Fidel Castro, được nhắc lại cả tại Hội nghị Đoàn kết Ba châu lần thứ nhất ở Havana năm 1969 và trong chuyến thăm đầu tiên của ông tới vùng giải phóng Quảng Trị năm 1973, đã cô đọng một cách mạnh mẽ bản chất của mối quan hệ giữa Cuba và Việt Nam bằng những lời sau:
“Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình"[4].
![]() |
| Lãnh tụ Cuba Fidel Castro phất cờ của quân Giải phóng tại Tiểu đoàn Khe Sanh trong chuyến thăm lịch sử đến vùng giải phóng Quảng Trị vào ngày 15/9/1973. (Ảnh: TTXVN) |
Mối quan hệ gần gũi này bắt nguồn từ việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức ở cấp nhà nước vào năm 1960[5]. Sự kiện đó đánh dấu khởi đầu của một quá trình trao đổi sâu rộng và liên tục, có tác động lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả hai quốc gia. Chỉ sau một năm thiết lập quan hệ ngoại giao, 23 thanh niên Việt Nam đầu tiên đã có cơ hội sang Cuba học tập và học tiếng Tây Ban Nha [6]. Kể từ đó, hàng nghìn người Việt Nam đã được đào tạo tại Cuba trong các lĩnh vực như kỹ thuật, y học và nhiều ngành chuyên môn khác, qua đó góp phần hình thành đội ngũ cán bộ, kỹ sư và bác sĩ phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước.
Các kỹ thuật viên Cuba cũng đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam từ thập niên 1960 trở đi. Sự hỗ trợ này không chỉ mang ý nghĩa vật chất, mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế cụ thể trong công cuộc tái thiết và phát triển của Việt Nam. Trong số những công trình tiêu biểu có thể kể đến Bệnh viện Hữu nghị Đồng Hới và Khách sạn Thắng Lợi tại Hà Nội, những biểu tượng thực tiễn cho tình hữu nghị, sự hợp tác và tinh thần giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc [7].
Cả hai nước cũng đã củng cố lẫn nhau trên trường quốc tế trong lĩnh vực sức mạnh mềm. Ngày 20 tháng 12 năm 1965, Cuba chính thức công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, qua đó thể hiện sự ủng hộ chính trị rõ ràng đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam [8]. Ngay từ năm 1963, Ủy ban Đoàn kết với miền Nam Việt Nam, được thành lập theo sáng kiến của Fidel Castro, đã tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam [9].
Sự ủng hộ đó không chỉ dừng lại ở tuyên bố chính trị hay biểu tượng ngoại giao, mà còn được thể hiện bằng những hành động vật chất rất cụ thể. Cuba đã cử nhân viên y tế, gửi trang thiết bị và hỗ trợ cơ sở hạ tầng tới Việt Nam nhằm chăm sóc thương binh, cứu chữa những người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và góp phần xây dựng những cơ sở hạ tầng thiết yếu. Đặc biệt đáng chú ý là sự hỗ trợ của Cuba đối với lực lượng vũ trang Việt Nam trong quá trình xây dựng và củng cố Đường Trường Sơn. Sát cánh cùng bộ đội Việt Nam và Trung đoàn Công binh 515, các chuyên gia Cuba đã sử dụng máy móc của Cuba để giúp trải đường, sửa chữa và bảo đảm hoạt động của những đoạn quan trọng trên Đường 42 và Đường 14 [10].
Cuba cũng đã đưa những bộ phận rộng rãi trong nhân dân mình tham gia vào tình đoàn kết ấy. Các hoạt động chính trị - xã hội này có thể được hiểu trong khuôn khổ ngoại giao nhân dân theo tinh thần Hồ Chí Minh, bởi chúng không chỉ thể hiện sự ủng hộ ở cấp nhà nước, mà còn biến tình đoàn kết quốc tế thành một thực tiễn xã hội được nhân dân trực tiếp tham gia, cảm nhận và lan tỏa. Chính những hoạt động như vậy đã đóng góp đáng kể vào việc hình thành và củng cố quyền lãnh đạo văn hóa của chủ nghĩa quốc tế trong đời sống xã hội Cuba.
Chẳng hạn, trong chiến dịch “Tất cả vì Việt Nam”, các nhà máy, khu phố, khu dân cư và đường phố ở Cuba đã được đặt theo tên các anh hùng Việt Nam [11]. Đây là một ví dụ đặc biệt và độc đáo cho thấy mối gắn bó giữa hai quốc gia đã trở nên sâu sắc như thế nào trong bối cảnh xâm lược đế quốc và trong tinh thần hữu nghị giữa các dân tộc. Tình đoàn kết với Việt Nam không còn chỉ là một khẩu hiệu ngoại giao, mà đã đi vào không gian sống hằng ngày của nhân dân Cuba, trở thành một phần của ký ức xã hội và văn hóa chính trị [12].
Cuba cũng góp phần huy động sự ủng hộ rộng rãi của khu vực Mỹ Latinh đối với việc Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1977[13]. Cho đến ngày nay, cả Việt Nam và Cuba vẫn là những hình mẫu tiêu biểu của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.
Tình đoàn kết của Việt Nam đối với Cuba
Tình hữu nghị này vẫn tiếp tục sống động và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Cả hai bên đều tích cực vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước thông qua ba trụ cột trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đặc biệt, sự hợp tác ở cấp độ nền tảng kinh tế thể hiện một kết quả đáng khâm phục của tình đoàn kết quốc tế và quá trình học hỏi lẫn nhau giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam kết hợp những hình thức hỗ trợ trực tiếp, như việc cung cấp trang thiết bị y tế trong đại dịch COVID-19 [14], viện trợ 250 tấn gạo, cũng như khoản hỗ trợ ngân sách trị giá 385 tỷ đồng vào tháng 9 năm 2025 [15], với các khoản đầu tư dài hạn nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế của Cuba. Nhờ đó, tình đoàn kết không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ khẩn cấp trong những thời điểm khó khăn, mà còn được mở rộng thành một hình thức hợp tác bền vững, hướng tới việc củng cố năng lực tự chủ và phát triển lâu dài của Cuba. Ngày nay, Việt Nam là nhà đầu tư lớn thứ hai của Cuba và đồng thời là đối tác thương mại lớn nhất của Cuba tại châu Á.
Sự phát triển nông nghiệp của Cuba cũng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Với khoản đầu tư 43 triệu USD của Tập đoàn Thái Bình, doanh nghiệp nước ngoài đầu tiên đầu tư vào Cuba kể từ sau Cách mạng Cuba năm 1959[16] , và thông qua doanh nghiệp nông nghiệp Agri VMA, tình đoàn kết giữa Việt Nam và Cuba đã trở nên cụ thể và hữu hình ở cấp độ kinh tế. Trên diện tích 1.000 hecta, vụ thu hoạch lúa đầu tiên đã đạt năng suất 7,2 tấn mỗi hecta, cao gấp bốn lần mức trung bình tại địa phương. Thành quả này cho thấy sự hợp tác không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ trước mắt, mà còn góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp của Cuba. Diện tích canh tác cũng đang được mở rộng lên 5.000 hecta, qua đó tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài hơn trong lĩnh vực lương thực [17].
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã phát triển bốn giống lúa có khả năng chống chịu tốt, được đặt tên là “ViBa”, một tên ghép từ “Việt Nam” và “Cuba”[18]. Những giống lúa này được điều chỉnh đặc biệt để thích nghi với điều kiện môi trường của Cuba, qua đó thể hiện sự kết hợp giữa tri thức khoa học, kinh nghiệm nông nghiệp và tinh thần đoàn kết quốc tế trong thực tiễn.
Tuy nhiên, bất chấp tất cả những hình thức hỗ trợ và hợp tác này, áp lực đối với Cuba do lệnh cấm vận gây ra đã gia tăng mạnh mẽ. Điều đó cho thấy sự phát triển kinh tế của Cuba vẫn diễn ra trong bối cảnh quốc tế đầy khó khăn, nơi tình đoàn kết và hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục giữ vai trò thiết yếu.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế nói trên, đồng thời trước những khó khăn nghiêm trọng do cuộc phong tỏa của Hoa Kỳ gây ra, Chính phủ Cuba dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Miguel Díaz-Canel đã khởi xướng một số cải cách kinh tế quan trọng. Những cải cách này bao gồm, bên cạnh nhiều biện pháp khác, việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư nước ngoài, chẳng hạn thông qua các giao dịch dựa trên đồng đô la Mỹ [19] , cũng như việc củng cố và mở rộng vai trò của khu vực tư nhân. Trong đó có thể kể đến việc cho phép thành lập các liên doanh giữa nhà nước và tư nhân, đồng thời mở ra khả năng để những người Cuba đang sinh sống ở nước ngoài tham gia với tư cách là nhà đầu tư. Một dự thảo luật đầu tư mới cũng được dự kiến sẽ được trình vào cuối năm [20].
Về phía Việt Nam, đất nước có nhiều kinh nghiệm sâu rộng trong quá trình cải cách kinh tế thông qua công cuộc Đổi Mới. Những kinh nghiệm này hiện đang được chia sẻ ở cấp độ ngoại giao Đảng, qua đó thể hiện vai trò của quan hệ giữa hai đảng trong việc trao đổi lý luận, kinh nghiệm quản lý và phương thức tổ chức cải cách trong điều kiện xã hội chủ nghĩa. Theo đó, quá trình chuyển giao tri thức về việc triển khai cải cách kinh tế trên phương diện chính trị đang được thúc đẩy một cách tích cực. Điều này được thể hiện, chẳng hạn, qua cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm và Chủ tịch Miguel Díaz-Canel vào tháng 1 năm 2026 [21], cũng như qua cuộc gặp với nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính, trong đó các bước đi cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình trao đổi và chuyển giao kinh nghiệm cải cách đã được đề xuất.
Ở cấp độ nhân dân, chiến dịch ủng hộ Cuba năm 2025 của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, mang tên “Việt Nam luôn bên cạnh Cuba”[22] , đã đạt được thành công to lớn và vượt xa mọi kỳ vọng ban đầu. Mục tiêu quyên góp không chỉ được hoàn thành, mà còn bị vượt qua gấp ba lần trong một thời gian rất ngắn. Chỉ trong vòng 30 giờ, chiến dịch đã huy động được 200 tỷ đồng, tương đương khoảng 8 triệu USD[23]. Sau 65 ngày, tổng số tiền quyên góp thậm chí đã đạt hơn 21,41 triệu USD [24], tức cao gấp khoảng chín lần rưỡi so với mục tiêu ban đầu [25].
![]() |
| Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trao tượng trưng khoản hỗ trợ 100 tỷ đồng của nhân dân Việt Nam dành cho nhân dân Cuba thông qua Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam, ngày 11/8/2026. (Ảnh: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam) |
Hàng nghìn người quyên góp đã không chỉ đóng góp về mặt vật chất, mà còn gửi kèm theo những lời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân Cuba vì sự ủng hộ mà Cuba đã dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Điều này cho thấy chiến dịch không đơn thuần là một hoạt động nhân đạo hay viện trợ tài chính, mà còn là một sự biểu hiện sống động của ký ức lịch sử, tình nghĩa quốc tế và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Chiến dịch quyên góp này được đặt trong khuôn khổ Năm Hữu nghị Việt Nam - Cuba 2025. Nhằm thu hút sự tham gia của các thế hệ trẻ và tiếp tục thúc đẩy tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước, nhiều sự kiện đã được tổ chức trên khắp Việt Nam. Những hoạt động này được định hình bởi giao lưu văn hóa, giáo dục truyền thống hữu nghị, cũng như sự đổi mới có ý thức và sự hoàn thiện những hình thức thực hành đoàn kết đã tồn tại từ trước[26].
Việc truyền tải tinh thần đoàn kết và tình hữu nghị giữa các dân tộc đến với thanh niên và thông qua thanh niên là một điểm đặc biệt nổi bật. Chẳng hạn, vào tháng 9 năm 2025, một chương trình giao lưu thanh niên đã diễn ra giữa các tổ chức thanh niên của Cuba và Việt Nam. Hoạt động này không chỉ tái khẳng định tinh thần anh em giữa hai dân tộc, mà còn hướng tới việc mở rộng hợp tác trong tương lai và “tạo ra một chân trời chung cho các thế hệ mai sau, dựa trên lịch sử chung, tình đoàn kết và thắng lợi chung"[27]
Sự phát triển này cho thấy tình đoàn kết Việt Nam – Cuba không chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ mang tính thời điểm, mà còn tạo ra năng lực hành động lâu dài về cả chính trị, kinh tế và ngoại giao. Bằng cách này, sức mạnh mềm được xây dựng, tiến trình hội nhập quốc tế được thúc đẩy, đồng thời vị thế của cả hai nước trước áp lực đế quốc cũng ngày càng được củng cố.
Trong những điều kiện lịch sử đã thay đổi, quá trình làm sâu sắc và củng cố các mối dây hữu nghị, đoàn kết ấy vì vậy được lặp lại dưới một hình thức mới. Nếu trước đây Cuba đã đưa tình đoàn kết với Việt Nam vào trong chính đời sống xã hội và ý thức của nhân dân Cuba, thì ngày nay Việt Nam đang đưa tình đoàn kết với Cuba trở lại vào trong chính xã hội Việt Nam. Hướng của sự giúp đỡ đã thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng bản chất quốc tế chủ nghĩa của tình đoàn kết ấy vẫn không hề thay đổi.
Cơ sở tư tưởng và lý luận
Như đã được trình bày trong phần thảo luận lịch sử, ba trụ cột trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng đối với tình hình kinh tế - xã hội của cả hai quốc gia. Ngoại giao nhà nước tạo điều kiện cho thương mại, hợp tác và các hình thức đoàn kết cụ thể giữa Việt Nam và Cuba, trong khi ngoại giao Đảng củng cố cả hai bên ở cấp độ tư tưởng thông qua quá trình thích ứng liên tục với những điều kiện lịch sử đang thay đổi. Đồng thời, ngoại giao Đảng cũng góp phần vào việc phát triển sức mạnh mềm của cả hai nước trên trường quốc tế, bởi nó tạo ra nền tảng chính trị, lý luận và chiến lược cho sự phối hợp lâu dài giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp của ngoại giao nhân dân xứng đáng được chú ý đặc biệt, bởi nó được phản ánh rõ trong sự mở rộng thành công quyền lãnh đạo tư tưởng của chủ nghĩa quốc tế, điều đã được chứng minh qua mức độ tham gia rộng lớn của nhân dân Việt Nam trong chiến dịch đoàn kết với Cuba năm 2025. Để hiểu đầy đủ ý nghĩa của hiện tượng này, cần phân tích sự tương tác giữa lý thuyết về quyền lãnh đạo tư tưởng của Antonio Gramsci và ngoại giao nhân dân theo tinh thần Hồ Chí Minh.
Trong bối cảnh này, ngoại giao nhân dân giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoại giao nhân dân cần được hiểu như một quá trình hiểu biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tình đoàn kết, theo tinh thần Hồ Chí Minh. Nhân dân không nên được nhìn nhận như một khối quần chúng chỉ để quản lý, cũng không chỉ đơn thuần như một chủ thể kinh tế - xã hội, mà cần được hiểu như một lực lượng văn hóa - xã hội có tầm quan trọng đặc biệt cao trong đời sống chính trị và trong sự phát triển của xã hội[28]. Sự tương tác giữa ngoại giao Đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân có thể được minh họa rõ ràng bằng câu nói sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là tự giúp mình"[29].
Do đó, cam kết đối với tình hữu nghị giữa các dân tộc và hòa bình đại diện cho một nguyên tắc chỉ đạo trung tâm, được thực hành một cách tích cực trong chính sách đối ngoại của Việt Nam [30]. Đây không chỉ là một định hướng ngoại giao mang tính tuyên bố, mà còn là một phương châm hành động được thể hiện thông qua quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau và đoàn kết quốc tế trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Các nguyên tắc này có cội nguồn lịch sử sâu sắc trong sự ủng hộ của Cuba đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam. Đồng thời, chúng vẫn tiếp tục giữ nguyên ý nghĩa trong thời đại ngày nay thông qua sự hỗ trợ của Việt Nam dành cho Cuba. Xét đến những cuộc chiến tranh, các lệnh cấm vận và những hình thức bao vây, gây sức ép mà cả hai quốc gia đã từng trải qua, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba đã được củng cố ở cấp độ toàn cầu trong tinh thần hòa bình, đoàn kết, chủ quyền dân tộc và tôn trọng luật pháp quốc tế.
Từ một góc nhìn rộng hơn, ngoại giao nhân dân có khả năng huy động những lực lượng bổ sung vượt ra ngoài phạm vi của ngoại giao nhà nước và ngoại giao Đảng. Ngoại giao nhân dân neo giữ tình hữu nghị quốc tế giữa các dân tộc trong ý thức xã hội của quần chúng nhân dân, biến những nguyên tắc đối ngoại và những cam kết đoàn kết quốc tế thành một phần của nhận thức, tình cảm và thực tiễn xã hội.
Chức năng này có thể được hiểu thông qua lý thuyết về quyền lãnh đạo tư tưởng của Antonio Gramsci. Theo cách tiếp cận đó, quyền lãnh đạo tư tưởng vận hành thông qua sự lãnh đạo văn hóa, định hướng đạo đức, các giá trị chung và sự đồng thuận xã hội. Sự ổn định chính trị hình thành ở nơi một trật tự xã hội có khả năng neo giữ các giá trị của mình trong đời sống hằng ngày của nhân dân, và ở nơi những giá trị ấy được nhân dân trải nghiệm như những điều có ý nghĩa, công bằng và cần thiết đối với chính cuộc sống của họ[31].
Ngoại giao nhân dân vận hành tại điểm giao nhau giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng xã hội. Nó kết nối các hình thức hợp tác vật chất với quá trình xây dựng ý thức chính trị bằng cách đưa các tổ chức quần chúng, đoàn thanh niên và những bộ phận rộng rãi của nhân dân tham gia vào thực tiễn quốc tế chủ nghĩa cụ thể. Nhờ đó, sự hợp tác giữa các quốc gia không chỉ tồn tại ở cấp độ hiệp định, viện trợ hay trao đổi kinh tế, mà còn được chuyển hóa thành kinh nghiệm chính trị và xã hội sống động của nhân dân[32].
Thông qua ngoại giao nhân dân, hỗ trợ vật chất, hợp tác kinh tế, ký ức lịch sử, giao lưu văn hóa và hoạt động chính trị cùng xuất hiện như những biểu hiện cụ thể của tình đoàn kết sống động giữa các dân tộc. Tình đoàn kết quốc tế vì vậy không còn chỉ là một nguyên tắc trừu tượng trong chính sách đối ngoại, mà được hiện thực hóa thành một niềm tin xã hội, được nhân dân cảm nhận, tham gia và tái khẳng định trong thực tiễn.
Điều này tạo ra ba tác động trung tâm. Thứ nhất, các hình thức hợp tác cụ thể góp phần cải thiện điều kiện sống của nhân dân ở cả hai quốc gia, cả trên phương diện vật chất lẫn tinh thần. Thứ hai, ngoại giao nhân dân đưa quần chúng nhân dân tham gia một cách tích cực vào quá trình hợp tác đó, qua đó biến quan hệ quốc tế và tình đoàn kết giữa các dân tộc thành một thực tiễn xã hội có sự tham gia rộng rãi. Thứ ba, chính sự tham gia này góp phần định hình ý thức chính trị, bởi nhân dân không chỉ chứng kiến lợi ích của thực tiễn quốc tế chủ nghĩa, mà còn tự mình trải nghiệm, đóng góp và cùng tạo ra những lợi ích ấy thông qua hành động cụ thể.
Nhờ vậy, các giá trị như tình đoàn kết, hòa bình, chủ quyền dân tộc và trách nhiệm lẫn nhau không chỉ tồn tại như những nguyên tắc chính trị hay khẩu hiệu ngoại giao, mà được neo giữ sâu sắc trong ý thức xã hội của nhân dân.
Chiến dịch đoàn kết của Việt Nam dành cho Cuba năm 2025 thể hiện tác động này một cách rõ ràng. Ký ức lịch sử, hỗ trợ vật chất, hợp tác kinh tế và các chiến dịch do các tổ chức quần chúng phát động đã cùng vận động trong một chỉnh thể thống nhất, qua đó đưa quan hệ giữa Việt Nam và Cuba đi sâu vào ý thức của nhân dân. Quan hệ hữu nghị giữa hai nước vì vậy không chỉ được nhắc lại như một di sản lịch sử, mà được tái hiện trong đời sống xã hội thông qua hành động cụ thể, sự tham gia rộng rãi và những biểu hiện thiết thực của tình đoàn kết.
Chính ở đây có thể thấy rõ sức mạnh bá quyền tư tưởng của ngoại giao nhân dân: nó củng cố tình hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba, huy động các nguồn lực xã hội vượt ra ngoài những cấu trúc thuần túy nhà nước, đồng thời có thể củng cố niềm tin của nhân dân vào chính phủ xã hội chủ nghĩa của chính mình. Thông qua việc nhân dân trực tiếp tham gia vào thực tiễn đoàn kết quốc tế, các giá trị của chủ nghĩa quốc tế được chuyển hóa thành kinh nghiệm xã hội sống động và trở thành một phần của ý thức chính trị tập thể.
Do đó, quan hệ giữa Việt Nam và Cuba không chỉ là một di sản lịch sử được kế thừa từ quá khứ. Đó là bằng chứng sống động cho thấy chủ nghĩa quốc tế có thể được neo giữ trong xã hội thông qua ngoại giao nhân dân như thế nào. Khi nhân dân trực tiếp tham gia vào các hình thức đoàn kết, ký ức lịch sử và tình hữu nghị giữa các dân tộc không chỉ được bảo tồn, mà còn được tái tạo và củng cố trong thực tiễn xã hội hiện tại.
Trong sự kết nối giữa hỗ trợ vật chất, thực tiễn chính trị và ký ức văn hóa, quyền lãnh đạo tư tưởng của chủ nghĩa quốc tế hiện lên như một lực lượng cụ thể của chính sách đối ngoại xã hội chủ nghĩa. Nó không chỉ định hướng quan hệ giữa các nhà nước, mà còn góp phần xây dựng ý thức chính trị, củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc và làm sâu sắc thêm sức mạnh xã hội của chủ nghĩa quốc tế trong đời sống nhân dân.
Tài liệu tham khảo:
1. Ministry of Foreign Affairs of Vietnam. (2023, 4. August). People-to-people diplomacy must be strategic pillar in Vietnam’s foreign policy: Party official. https://mofa.gov.vn/en/web/ministry-of-foreign-affairs/detail/chi-tiet/people-to-people-diplomacy-must-be-strategic-pillar-in-vietnam-s-foreign-policy-party-official-58295-177.html
2. Granma, (2018, 6. April). Vietnam and Ho Chi Minh http://en.granma.cu/mundo/2018-04-06/vietnam-and-ho-chi-minh
3. Vietnam.vn. (2025, 21. September). The great solidarity between Vietnam and Cuba cannot be distorted. https://vietnam.vn/en/the-great-solidarity-between-vietnam-and-cuba-cannot-be-distorted/
4.VietnamPlus. (2025, 30. August). Vietnam – Cuba friendship a symbol of true international solidarity: Ambassador. https://en.vietnamplus.vn/vietnam-cuba-friendship-a-symbol-of-true-international-solidarity-ambassador-post295218.vnp
5.Parlamento Cubano. (2023, 22. September). 50 hitos en la historia de las relaciones entre Cuba y Vietnam (parteI). https://www.parlamentocubano.gob.cu/50-hitos-en-la-historia-de-las-relaciones-entre-cuba-y-vietnam-parte-i/
6.Vietnam.vn. (2025, 12. Februar). Vietnam-Cuba: 65 years of development together. https://vietnam.vn/en/vietnam-cuba-65-years-of-development-together/
7.VietnamPlus. (2025, 30. August). Vietnam – Cuba friendship a symbol of true international solidarity: Ambassador.https://en.vietnamplus.vn/vietnam-cuba-friendship-a-symbol-of-true-international-solidarity-ambassador-post295218.vnp
8.Parlamento Cubano. (2023, 22. September). 50 hitos en la historia de las relaciones entre Cuba y Vietnam (parteI). https://www.parlamentocubano.gob.cu/50-hitos-en-la-historia-de-las-relaciones-entre-cuba-y-vietnam-parte-i/
9.Progressive International. (2025, 15. September). PI Briefing No. 34: Socialist Internationalism in Action. https://progressive.international/wire/2025-09-15-pi-briefing-no-34-socialist-internationalism-in-action/en/
10.VietnamPlus. (2025, 30. August). Vietnam – Cuba friendship a symbol of true international solidarity: Ambassador. https://en.vietnamplus.vn/vietnam-cuba-friendship-a-symbol-of-true-international-solidarity-ambassador-post295218.vnp
11.Progressive International. (2025, 15. September). PI Briefing No. 34: Socialist Internationalism in Action. https://progressive.international/wire/2025-09-15-pi-briefing-no-34-socialist-internationalism-in-action/en/
12.Progressive International. (2025, 15. September). PI Briefing No. 34: Socialist Internationalism in Action. https://progressive.international/wire/2025-09-15-pi-briefing-no-34-socialist-internationalism-in-action/en/
13.Vietnam Law Magazine. (2023, 1. November). Vietnam, Cuba nurture decades-long special relations. https://vietnamlawmagazine.vn/vietnam-cuba-nurture-decades-long-special-relations-70994.html
14. VietnamPlus. (2020, 16. Juli). Defence Ministry donates medical supplies to help Cuba fight COVID-19. https://en.vietnamplus.vn/defence-ministry-donates-medical-supplies-to-help-cuba-fight-covid19/178696.vnp
15.VietnamPlus. (2025, 26. September). Vietnam provides Cuba with 385 billion VND in aid to overcome difficulties.https://en.vietnamplus.vn/vietnam-provides-cuba-with-385-billion-vnd-in-aid-to-overcome-difficulties-post296823.vnp
16.Vietnam.vn. (2025, 27. August). Vietnamesische Unternehmen engagieren sich für langfristige Investitionen in Kuba. https://vietnam.vn/de/vietnamesische-unternehmen-engagieren-sich-fur-langfristige-investitionen-in-kuba/
17. Vietnam.vn. (2025, 19. Juni). Internationale Medien heben einzigartiges Kooperationsmodell zwischen Vietnam und Kuba im Reisbereich hervor. https://vietnam.vn/de/internationale-medien-heben-einzigartiges-kooperationsmodell-zwischen-vietnam-und-kuba-im-reisbereich-hervor/
18.Vietnam.vn. (2025). VIBA - The golden seed of Vietnam-Cuba friendship. https://vietnam.vn/en/viba-the-golden-seed-of-vietnam-cuba-friendship/
19. Granma. (2025, 25. November). Anuncian nuevas medidas para flexibilizar y dinamizar la Inversión Extranjera en Cuba. https://www.granma.cu/cuba/2025-11-25/anuncian-nuevas-medidas-para-flexibilizar-y-dinamizar-la-inversion-extranjera-en-cuba
20.Granma. (2025, 19. Dezember). ¿Qué proyecta Cuba para su economía en 2026? https://www.granma.cu/cuba/2025-12-19/que-proyecta-cuba-para-su-economia-en-2026
21.Voice of Vietnam. (2026, 27. Januar). Vietnam, Cuba leaders discuss Party Congress outcomes, pledge closer ties. https://vovworld.vn/en-US/news/vietnam-cuba-leaders-discuss-party-congress-outcomes-pledge-closer-ties-1169166.vov
22. vietnam.vn (2025, 14. August). More than 125 billion VND to support the Cuban people after 2 days of launching. https://www.vietnam.vn/en/hon-125-ty-dong-ung-ho-nhan-dan-cuba-sau-2-ngay-phat-dong
23.Prensa Latina. (2025, 16. August). Cuba support campaign in Vietnam triples initial target. https://www.plenglish.com/news/2025/08/16/cuba-support-campaign-in-vietnam-triples-initial-target/
24.Nhan Dan. (2025, October 16). Viet Nam raises over 537 billion VND in support of Cuba. Nhan Dan. https://en.nhandan.vn/viet-nam-raises-over-537-billion-vnd-in-support-of-cuba-post154139.html
25.Viet nam News (2025, 18. Oktober). Over US$ 23.34 million raised for Cuban people. https://vietnamnews.vn/Politics%20-%20Laws/1727577/over-us-23-34-million-raised-for-cuban-people.html
26. Ministry of Foreign Affairs. (2026, February 2). Vietnamese, Cuban foreign ministers affirm party diplomacy as key political foundation of bilateral ties. Ministry of Foreign Affairs - Cổng Thông Tin Bộ Ngoại Giao. Retrieved May 27, 2026, from https://vnembassy-berlin.mofa.gov.vn/web/ministry-of-foreign-affairs/detail/chi-tiet/vietnamese-cuban-foreign-ministers-affirm-party-diplomacy-as-key-political-foundation-of-bilateral-ties-58679-1074.html
27.Cuban News Agency (2025, 15. September). Cuba-Vietnam youth exchange strengthens collaboration ties. http://www.cubanews.acn.cu/cuba/27568-cuba-vietnam-youth-exchange-strengthens-collaboration-ties
28.Lao Dong. (2024, 2. September). Đạo đức Hồ Chí Minh – biểu tượng văn hóa sáng ngời. https://news.laodong.vn/thoi-su/dao-duc-ho-chi-minh-bieu-tuong-van-hoa-sang-ngoi-1703777.ldo
29. Vietnam Union of Friendship Organizations. (o. D.). Homepage. Abgerufen am 22. Mai 2026, von https://vufo.org.vn/default.aspx?lang=en
30.Nhan Dan. (2024, 28. September). People-to-people diplomacy contributes to Vietnam‘s soft power. https://en.nhandan.vn/people-to-people-diplomacy-contributes-to-vietnams-soft-power-post143827.html
31.Gramsci, A. (2019). Gefängnishefte: Kritische Gesamtausgabe (K. Bochmann & W. F. Haug, Hrsg.). Argument Verlag.
32. Gramsci, A. (2019). Gefängnishefte: Kritische Gesamtausgabe (K. Bochmann & W. F. Haug, Hrsg.). Argument Verlag.
Tin bài khác
Người trẻ Việt kết nối văn hóa Việt - Nhật qua âm nhạc
Thứ trưởng Hồ An Phong được bầu làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam - Belarus nhiệm kỳ 2026 - 2031







