Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc
| Lan tỏa trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ trong nước ra quốc tế Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam giành 7 giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng |
Mối liên kết giữa hệ tư tưởng và đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ phong trào độc lập dân tộc của Việt Nam năm 1945, mà còn là nhà chiến lược hàng đầu chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc thế kỷ XX. Năm 1987, Người được UNESCO vinh danh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc và Danh nhân Văn hóa Việt Nam (cũng như Danh nhân Văn hóa Thế giới. Rời Sài Gòn ngày 5/6/1911, Người bôn ba khắp châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ để nghiên cứu thực tiễn quốc tế. Năm 1912, Người lưu trú sáu tháng tại Rio de Janeiro (Brazil), tiếp xúc với phong trào thủy thủ chống bạo lực và bóc lột tại nơi làm việc.
Di sản chính trị của Người nổi bật ở việc kết hợp cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thuộc địa với cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, theo tấm gương của công nhân và nông dân Nga dưới sự lãnh đạo của V.I. Lenin đầu thế kỷ XX. Để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng gồm trục xuất thực dân Pháp, chống phát xít Nhật và đánh bại quân đội Hoa Kỳ, Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành độc lập, tái thống nhất và phát triển đến nay.
Chiến lược của Hồ Chí Minh xây dựng các mặt trận thống nhất rộng rãi - quy tụ công nhân, nông dân, trí thức, tôn giáo và các lực lượng yêu nước - đã trở thành một trong các nền tảng của hệ thống chính trị Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) ngày nay kế thừa trực tiếp tư tưởng này, đóng vai trò cốt lõi thúc đẩy hợp tác giữa Đảng, Nhà nước và xã hội. MTTQVN là liên minh chính trị, tự nguyện của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tôn giáo, hiệp hội nghề nghiệp và cá nhân tiêu biểu. Nguồn gốc tổ chức bắt nguồn từ các mặt trận giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh thành lập trong thời kỳ chống thực dân.
Nguồn gốc lịch sử của MTTQVN
Vai trò hiện nay của MTTQVN chỉ có thể được hiểu đầy đủ trong khuôn khổ lịch sử mà Hồ Chí Minh đặt ra: sự nghiệp giải phóng dân tộc đòi hỏi liên minh rộng rãi nhất giữa các lực lượng. Dù Đảng lãnh đạo, thắng lợi chỉ đạt được nhờ huy động tổng lực công-nông-trí thức, tôn giáo, dân tộc thiểu số, doanh nhân yêu nước, và tất cả các lực lượng cam kết với độc lập dân tộc.
Chiến lược này cụ thể hóa bằng sự ra đời của Mặt trận Việt Minh năm 1941 để đoàn kết các lực lượng chính trị và xã hội chống thực dân, phát xít, vì độc lập dân tộc.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 khẳng định đại đoàn kết không chỉ là một chiến thuật chính trị mà còn là nguyên tắc quản trị chiến lược lâu dài. Ttruyền thống này phát triển qua các giai đoạn khác nhau, bao gồm Mặt trận Liên Việt và nay là MTTQVN. Mặt trận không đơn thuần là cơ quan hành chính, mà là hiện thân của sự kế thừa lịch sử nối liền quá khứ với chiến lược phát triển hiện tại. Sứ mệnh tập hợp lực lượng quanh mục tiêu chung phản ánh nguyên lý chính trị bền vững nhất của Hồ Chí Minh: sức mạnh dân tộc bắt nguồn từ sự đoàn kết có tổ chức của nhân dân.
![]() |
| Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đóng vai trò là cơ chế thể chế quan trọng để củng cố và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong toàn thể người dân Việt Nam. (Ảnh minh hoạ: Báo Chính phủ) |
Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời việc gìn giữ, đổi mới các cơ chế đại đoàn kết. Mặt trận là biểu hiện thể chế của mối quan hệ này, chuyển hóa lý tưởng đoàn kết thành công cụ quản trị và gắn kết xã hội.
Trong bối cảnh chính trị phức tạp của Việt Nam đương đại, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - là mệnh lệnh chiến lược cho sự sống còn của quốc gia. Khi đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” hướng tới cột mốc 2030 và 2045, các phương thức bảo vệ phải chuyển từ tuyên truyền truyền thống sang hội nhập xã hội sâu rộng. Bài viết lập luận MTTQVN là cơ chế thể chế cốt lõi để quán triệt và bảo vệ nền tảng tư tưởng trong nhân dân. Thay vì cưỡng bách, Mặt trận vận hành như cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân để tạo đồng thuận xã hội. Nghiên cứu phân tích vai trò này qua ba chức năng: phát huy đại đoàn kết làm thành trì, thể chế hóa dân chủ qua giám sát - phản biện, và thích ứng với môi trường kỹ thuật số.
Theo tờ Vietnam News, “MTTQVN có tám trách nhiệm bầu cử cốt lõi, trong đó hoạt động hiệp thương giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là trung tâm. Quy định hiện hành gồm ba vòng hiệp thương: vòng một (1-10/12/2025), vòng hai (2-3/2) lập danh sách sơ bộ, và vòng ba (11/2) công bố danh sách chính thức. Mặt trận cũng giữ vai trò truyền thông giúp công dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ hiến định để tham gia bầu cử. Xuyên suốt tiến trình, Mặt trận tăng cường giám sát các cơ quan Nhà nước và tạo cơ chế để người dân trực tiếp theo dõi hoạt động bầu cử tại khu dân cư.”
Từ Chiến lược Mặt trận Thống nhất của Hồ Chí Minh đến MTTQVN
Một trong những đóng góp vĩ đại của Hồ Chí Minh là kết hợp vai trò tiên phong của Đảng với sự tham gia rộng rãi của xã hội. Người khẳng định Đảng không thể tự giành thắng lợi nếu thiếu khối liên minh yêu nước rộng lớn cam kết với độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước. Công-nông-trí, tôn giáo, thanh niên, dân tộc thiểu số, kể cả tư sản dân tộc, đều được tập hợp vào dự án quốc gia chung. Tư tưởng này cụ thể hóa qua Mặt trận Việt Minh năm 1941 chống thực dân, phát xít. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chứng minh tính hiệu quả của chiến lược, biến đoàn kết toàn dân thành nguyên tắc tổ chức chính trị vĩnh viễn.
Truyền thống này tiến hóa qua Mặt trận Liên Việt và MTTQVN nhằm củng cố sự tham gia của cá lực oượng xã hội đa dạng vào việc xây dựng một quốc gia độc lập. Sau năm 1975, Mặt trận mở rộng vai trò, tích hợp các tổ chức quần chúng, hiệp hội, tôn giáo, công dân tiêu biểu vào khuôn khổ tham gia chính trị thống nhất.
Sự tiến hóa này giải thích sứ mệnh ngày nay của Mặt trận: không đơn thuần là cấu phần hành chính mà là hiện thân của tầm nhìn đại đoàn kết toàn dân tộc. Vai trò tập hợp đồng thuận, điều hòa lợi ích, tăng cường sự tham gia của công dân và củng cố niềm tin của quần chúng chứng minh rằng ổn định chính trị và phát triển đất nước phụ thuộc vào nhân dân.
Do đó, bảo vệ hệ tư tưởng gắn liền với khối đại đoàn kết. Mặt trận là cầu nối chuyển hóa lý luận thành cơ chế thực tiễn phục vụ gắn kết xã hội, tính chính danh chính trị và hành động tập thể. Các hoạt động của Mặt trận ngày nay kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước, thích ứng với các thách thức của một xã hội hiện đại, toàn cầu hóa và ngày càng số hóa.
KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT – HỆ TƯ TƯỞNG LÀ “ĐÁ TẢNG”
Định nghĩa về nền tảng tư tưởng
“Nền tảng tư tưởng” được xác định là “chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, giữ vai trò “kim chỉ nam cho hành động cách mạng”. Nó không chỉ khẳng định tính chính danh lãnh đạo của Đảng mà còn cung cấp phương pháp luận khoa học định hình lộ trình hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, nền tảng này đối mặt với nguy cơ “thâm hụt niềm tin” thời hiện đại. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng gắn liền với sự sống còn của Đảng và dân tộc. Mối đe dọa dịch chuyển sang chiến lược “diễn biến hòa bình” - nơi các thế lực thù địch lợi dụng mâu thuẫn nội bộ, phân hóa kinh tế và thông tin sai lệch để bào mòn niềm tin từ bên trong.
MTTQVN với tư cách là “hạt nhân chính trị”
Hiến pháp 2013 (sửa đổi năm 2025) quy định Mặt trận là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Về mặt pháp lý, đây là tổ chức duy nhất có thẩm quyền tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Địa vị này biến Mặt trận thành cánh tay nối dài chính trị của Đảng.
Mối quan hệ mang tính cộng sinh: Đảng lãnh đạo, Mặt trận tạo dựng tính chính danh. Bằng cách truyền tải ý chí của nhân dân, Đảng khẳng định một “giao ước xã hội” vừa mang tính tập trung dân chủ vừa đậm bản sắc đồng thuận Việt Nam. Bảo vệ tư tưởng đòi hỏi Mặt trận giữ vững kênh tương tác này thông suốt và uy tín; nếu thất bại, nền tảng tư tưởng sẽ rạn nứt.
Mô hình này có nét tương đồng với hệ thống Mặt trận Thống nhất của Trung Quốc (do Ban Công tác Mặt trận Thống nhất quản lý nhằm xây dựng đồng thuận ngoại Đảng) và các tổ chức quần chúng ở Cuba (như Ủy ban Bảo vệ Cách mạng và Liên hiệp Phụ nữ Cuba giúp thắt chặt mối quan hệ nhà nước - xã hội).
MTTQVN cũng có chức năng làm thể chế trung gian điều hòa lợi ích và thúc đẩy đoàn kết, nhưng mô hình Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh vào khái niệm “đại đoàn kết toàn dân tộc” gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử đấu tranh dân tộc. Điều này tạo nên tính chính danh độc đáo bắt nguồn từ cả quản trị xã hội chủ nghĩa lẫn truyền thống yêu nước.
CHIẾN LƯỢC “LẤY LỢI ÍCH QUỐC GIA LÀM MẪU SỐ CHUNG”
Tuyến phòng thủ thứ nhất - Đại đoàn kết dân tộc là “lá chắn từ gốc”
Biện pháp bảo vệ tư tưởng tinh tế nhất là chủ động phòng ngừa: triệt tiêu mầm mống bức xúc xã hội mà thế lực thù địch có thể lợi dụng. Tại Đại hội XI của Mặt trận (tháng 5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Mặt trận phải là “nơi hội tụ của lòng dân” - cội nguồn tối thượng của tính chính danh chính trị tại Việt Nam.
Mặt trận cụ thể hóa điều này qua quan điểm “tôn trọng những khác biệt chính đáng”. Kinh tế nhiều thành phần phát sinh mâu thuẫn giai tầng; Mặt trận không xóa bỏ khác biệt mà hòa giải chúng dưới “điểm đồng mẫu số” là lợi ích quốc gia. Ví dụ, trong tranh chấp đất đai (điểm nóng nhạy cảm), Mặt trận đóng vai trò hòa giải từ cơ sở , kịp thời giải quyết khiếu nại để ngăn chặn các câu chuyện tiêu cực bị phát tán, lợi dụng tấn công vào chính sách sở hữu đất đai của Đảng. Cơ chế này tạo dựng “hệ miễn dịch” chống thông tin sai lệch. Khi Mặt trận chủ động hàn gắn các vết rạn bằng giải pháp thực tế, luận điệu kích động sẽ mất điểm tựa. Logic cốt lõi: người dân được giải quyết bức xúc thỏa đáng bởi cán bộ Mặt trận sẽ có sức đề kháng cao trước các tuyên truyền chống phá.
Gần gũi cơ sở: Mô hình “Mặt trận số” kết hợp hiện diện thực tế
Sức mạnh của Mặt trận nằm ở mạng lưới bám rễ sâu rộng đến tận thôn xóm, khu dân cư và tôn giáo, mang lại năng lực nắm bắt tình hình mà thuật toán số không thể thay thế. Phương châm “khi nhân dân cần Mặt trận có mặt; khi nhân dân gặp khó khăn Mặt trận sẵn sàng tham gia” là mệnh lệnh hành động. Trong kỷ nguyên số, sự sâu sát này mở rộng lên không gian mạng qua mô hình “Mặt trận số” (thí điểm hiệu quả tại An Giang). Cán bộ Mặt trận phải “lắng nghe tiếng lòng nhân dân bằng trái tim” , chủ động theo dõi các hội nhóm mạng xã hội để phát hiện sớm bức xúc. Việc vận hành các “Cổng thông tin Mặt trận số” 24/7 giúp rút ngắn chu trình phản hồi, làm van xả áp suất xã hội và triệt tiêu tư duy đối lập, khẳng định Mặt trận là bên điều hòa xung đột năng động.
Tuyến phòng thủ thứ hai - Thể chế hóa dân chủ và giám sát
Phản biện xã hội như một “biện pháp phòng ngừa từ sớm”
Trong khi đoàn kết hướng tới trái tim, giám sát hướng tới khối óc. Mặt trận có thẩm quyền pháp lý đặc thù: quyền “giám sát và phản biện xã hội” đối với dự thảo luật, chính sách và tư cách đạo đức cán bộ trước khi thực hiện. Giai đoạn 2024–2026, hệ thống Mặt trận đã triển khai hơn 2.300 hoạt động giám sát chuyên đề và 1.300 hội nghị phản biện. Tại nhiều nơi, văn bản ý kiến phản biện của Mặt trận là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ trình chính sách.
Vòng lặp phản hồi này ngăn ngừa các chính sách xa rời thực tế gây bất mãn. Dưới góc nhìn bảo vệ tư tưởng, đây là biện pháp phòng ngừa từ sớm , vì một chính sách tồi gây khó khăn kinh tế sẽ là công cụ cho lực lượng chống phá. Việc phản biện sớm giúp tạo dựng “quyền làm chủ chính sách” của người dân. Khi ý kiến đóng góp được tiếp thu vào luật (như Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở), niềm tin của nhân dân vào Đảng được củng cố.
Bầu cử và tính chính danh của “quyền làm chủ của nhân dân”
Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI (tháng 3/2026) chứng minh vai trò “người gác cổng” của Mặt trận đối với tính chính danh hệ thống. Mặt trận tổ chức ba vòng hiệp thương để sàng lọc ứng cử viên, lấy ý kiến tín nhiệm từ cơ quan đến nơi cư trú. Quy trình với hơn 76 triệu cử tri này giúp loại bỏ cá nhân suy thoái, chọn lựa người trung thành với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao cần được hiểu trong bối cảnh chính trị Việt Nam: bầu cử dựa trên nguyên tắc hiệp thương rộng rãi giữa các cơ quan, tổ chức quần chúng và cộng đồng thay vì cạnh tranh đa đảng phương Tây. Người ủng hộ lập luận phương thức này tăng đồng thuận và bảo đảm đại biểu gắn bó mật thiết với cử tri. Dù một số học giả quốc tế đặt câu hỏi về việc giới hạn lựa chọn chính trị do thiếu cạnh tranh phe phái , tính chính danh của hệ thống Việt Nam bắt nguồn từ năng lực đại diện lợi ích, giữ ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Mặt trận giữ vị trí trung tâm trong việc tổ chức hiệp thương và tạo điều kiện cho công dân tham gia.
Mặt trận định hình ngày bỏ phiếu là “ngày hội non sông”, tạo thông điệp đồng thuận qua tỷ lệ đi bầu xấp xỉ tuyệt đối. Cơ chế hiệp thương buộc ứng cử viên chịu trách nhiệm giải trình trước Mặt trận. Sự “sàng lọc trước” này bảo vệ hệ tư tưởng bằng cách bảo đảm cơ quan lập pháp gồm những cá nhân không lợi dụng miễn trừ nghị trường để công kích chủ nghĩa xã hội. Việc Mặt trận giám sát bầu cử (rà soát danh sách cử tri, giám sát điểm bỏ phiếu) mang lại tính minh bạch kỹ thuật cần thiết cho “thế hệ số” , vô hiệu hóa các công kích từ bên ngoài về vấn đề thiếu dân chủ.
CHIẾN TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ – THÍCH ỨNG VỚI CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Mối đe dọa bất đối xứng trên không gian mạng
Môi trường kỹ thuật số thay đổi căn bản cục diện đấu tranh tư tưởng. Các thế lực thù địch sử dụng TikTok, YouTube và công nghệ deepfake để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” qua “thẩm thấu mềm” và “thâm nhập sâu”. Để bảo vệ tư tưởng, Đảng phải bảo đảm khuyến nghị của Mặt trận được các cơ quan chức năng nghiêm túc tiếp thu. Sửa đổi Hiến pháp 2025 đã tăng cơ sở pháp lý để Mặt trận yêu cầu giải trình. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ văn hóa “xin-cho“ sang ”quyền hạn - trách nhiệm“ còn chậm. Khi chưa có quyền phủ quyết chính sách hoặc quyền kích hoạt bãi miễn thực chất, tuyến phòng thủ này vẫn mang tính chất ”mềm", phụ thuộc vào người đứng đầu cấp ủy.
Thông tin sai lệch kỹ thuật số đối đầu với sự tinh vi về công nghệ
Thách thức lớn là sự bất đối xứng về công nghệ. Khi Mặt trận đang xây dựng các “Cổng thông tin Mặt trận số”, thế lực chống phá đã ứng dụng AI tạo sinh tạo video deepfake về lãnh đạo để bào mòn niềm tin công chúng trong vài giây. Mặt trận hiện thiếu hụt nhân lực công nghệ trình độ cao để cạnh tranh với các chiến dịch thông tin sai lệch tinh vi từ nước ngoài. Dù có thể tập huấn kỹ năng số cơ bản cho cán bộ, Mặt trận vẫn gặp khó khăn trong thu hút chuyên gia an ninh mạng trình độ cao để truy vết, gắn cờ mạng lưới giả mạo. Do đó, Mặt trận cần phối hợp chặt chẽ hơn với Bộ tư lệnh Tác chiến Không gian mạng (Bộ Tư lệnh 86) và các tập đoàn công nghệ trong nước để tránh rơi vào thế bất lợi.
TƯƠNG LAI CỦA BỨC TƯỜNG THÀNH VÔ HÌNH
Bảo vệ nền tảng tư tưởng qua Mặt trận đòi hỏi nghệ thuật cân bằng: Mặt trận vừa phải là cánh tay nối dài của Đảng (trung thành), vừa phải đại diện cho tiếng nói nhân dân (phản biện). Khi đạt trạng thái cân bằng, Mặt trận vận hành như màng bán thấm sinh học: cho phép nguyện vọng chính đáng vào trong và ngăn chặn tấn công phá hoại từ bên ngoài.
Động lực này giải thích qua lý thuyết “quyền bá chủ văn hóa” của Antonio Gramsci: lãnh đạo chính trị bền vững không chỉ dựa vào cưỡng bách thô bạo mà phải liên tục kiến tạo sự đồng thuận xã hội. Các thiết chế xã hội dân sự giữ vai trò chuyển hóa dự án chính trị thành giá trị chung. MTTQVN không đơn thuần là cấu trúc huy động quần chúng mà là cơ chế tạo dựng đồng thuận quanh mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát triển đất nước. Thay vì tuyên truyền một chiều, Mặt trận củng cố tính chính danh bằng tương tác, hòa giải xung đột và tham vấn công chúng liên tục.
Đại hội XI của Mặt trận vạch lộ trình nhận thức thực tế kỷ nguyên số và quốc gia thu nhập trung bình. Việc lấy lợi ích quốc gia làm điểm đồng mẫu số và tôn trọng khác biệt là bước tiến hóa tinh tế sang tầm nhìn Gramsci về đồng thuận văn hóa - nơi thế giới quan của Đảng trở thành nhận thức tự nhiên của nhân dân nhờ kết quả phát triển thực tế.
Tuy nhiên, bệnh hình thức, quyền thực thi hạn chế và bất đối xứng công nghệ là nguy cơ hiện hữu. Để làm tốt vai trò “hạt nhân chính trị”, Mặt trận cần tự đổi mới: minh bạch thực chất, sàng lọc cán bộ yếu kém và đầu tư mạnh vào tương tác số. Mô hình Việt Nam đặt giả thuyết: hệ tư tưởng được bảo vệ tốt nhất không phải bằng cách kìm hãm ý kiến khác biệt, mà bằng năng lực hấp thụ và giải quyết chúng, trong đó Mặt trận là động cơ thể chế. Việc Mặt trận có kịp tiến bước cùng cách mạng số và kinh tế thị trường hay không sẽ quyết định việc Đảng chào đón một trăm năm thành lập (2030) trong vị thế ổn định hay đối mặt với thách thức niềm tin. Hiện tại, Mặt trận vẫn là công cụ tinh vi nhất để bảo vệ quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
KẾT LUẬN
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thế kỷ XXI đã vượt ra ngoài phạm vi giáo dục chính trị truyền thống. Việc gìn giữ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc vào năng lực giữ vững niềm tin công chúng, củng cố đại đoàn kết và bảo đảm bộ máy phản hồi kịp thời nguyện vọng của nhân dân. MTTQVN giữ vị trí chiến lược cốt lõi làm cầu nối tương tác và là cơ chế thiết yếu bảo vệ đồng thuận xã hội, tính chính danh của chế độ.
Phân tích làm nổi bật ba trụ cột gắn kết hữu cơ của công tác bảo vệ tư tưởng:
1. Trụ cột thứ nhất: Thúc đẩy đại đoàn kết toàn dân tộc qua hòa giải xung đột lợi ích, đối thoại và gắn kết cơ sở. Việc giải quyết dứt điểm khiếu nại từ sớm giúp triệt tiêu kẽ hở bị lợi dụng kích động.
2. Trụ cột thứ hai: Thể chế hóa hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia dân chủ thực chất. Quy trình hiệp thương và giám sát bầu cử đưa tiếng nói nhân dân vào quản trị quốc gia, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa nhân dân và Đảng.
3. Trụ cột thứ ba: Chủ động thích ứng với kỷ nguyên số. Không gian mạng đòi hỏi nâng tầm năng lực công nghệ, trình độ số, cơ chế phản ứng nhanh và các nền tảng tham vấn trực tuyến để tăng cường sức đề kháng của hệ thống.
Kinh nghiệm Việt Nam gợi mở bài học: phương thức phòng thủ hệ tư tưởng hiệu quả nhất là củng cố sức mạnh nội sinh từ bên trong. MTTQVN là công cụ chiến lược chuyển hóa lý luận thành hiện thực đời sống. Năng lực thích ứng của Mặt trận trong xã hội số và kinh tế thị trường hiện đại là nhân tố quyết định sự ổn định, phát triển hướng tới các mốc lịch sử 2030, 2045 và xa hơn nữa. Bằng việc gìn giữ đại đoàn kết qua đối thoại và đồng thuận, Mặt trận tiếp nối bài học chính trị vĩ đại của Hồ Chí Minh: sức mạnh cách mạng và phát triển quốc gia nằm ở sự đoàn kết có tổ chức của nhân dân.
Tin bài khác
Những người bạn Mỹ góp sức xoa dịu nỗi đau da cam
Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Di sản tinh thần giải phóng dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam





