Quảng Trị: Từ "đất lửa" đến không gian văn hóa hòa bình
| Những khuôn hình chiến tranh kể câu chuyện về hòa bình Từ ký ức đến tương lai: Vun đắp hòa bình, hữu nghị và hợp tác |
Hơn nửa thế kỷ sau ngày chiến tranh kết thúc, vùng đất từng bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 đang hướng tới một sứ mệnh mới: biến ký ức chiến tranh thành chất liệu của một nền văn hóa hòa bình và trở thành nơi hội ngộ của những người yêu chuộng hòa bình.
Ít có nơi nào trên đất nước Việt Nam mang nặng ký ức chiến tranh như dải đất từ Đèo Ngang đến cố đô Huế. Từ tháng 7/2025, sau khi Quảng Bình và Quảng Trị hợp nhất, nhiều địa danh gắn với “tuyến lửa” năm xưa cùng nằm trong không gian của tỉnh Quảng Trị mới.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, dòng Bến Hải và cầu Hiền Lương trở thành giới tuyến tạm thời. Phía Bắc giới tuyến, người dân Vĩnh Linh đào địa đạo Vịnh Mốc để sống và sản xuất dưới mưa bom. Phía Tây là Khe Sanh, Đường 9, nơi diễn ra những trận đánh được nhiều tờ báo ở phương Tây năm 1968 gọi là “Điện Biên Phủ thứ hai”. Mùa hè năm 1972, Thành Cổ Quảng Trị trải qua 81 ngày đêm chiến đấu khốc liệt; nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong Thành cổ và trên dòng Thạch Hãn. Xa hơn về phía Bắc, vùng Quảng Bình cũ là cửa ngõ của tuyến chi viện chiến lược cho miền Nam với Đường 20 Quyết Thắng, phà Gianh, bến phà Long Đại cùng nhiều “tọa độ lửa”.
Trong chiến tranh, thị xã Đồng Hới gần như bị san phẳng. Trên dòng Nhật Lệ, Mẹ Nguyễn Thị Suốt chèo đò đưa bộ đội, vận chuyển vũ khí và thương binh qua sông dưới bom đạn cho đến khi hy sinh năm 1968. Cùng với Thành cổ, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 và nhiều địa danh khác, hình ảnh Mẹ Suốt đã trở thành một phần ký ức không thể tách rời của vùng đất này.
Chiến tranh chưa hoàn toàn lùi vào quá khứ. Bom mìn và vật liệu nổ còn sót lại tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống người dân trong nhiều thập niên sau năm 1975.
![]() |
| Di tích Quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải. (Ảnh: Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Trị) |
Từ hố bom đến những rặng cây hòa bình
Điều làm Quảng Trị khác biệt không chỉ là mức độ tàn phá, mà là cách vùng đất này đi qua nó.
![]() |
| Nhân viên đội rà phá RENEW sử dụng máy rà khung rộng dò tìm tín hiệu vật nổ trên hiện trường tại Quảng Trị. (Ảnh: RENEW) |
Năm 1992, cựu binh Mỹ Chuck Searcy, người từng tham chiến ở Việt Nam giai đoạn 1967-1968, trở lại Quảng Trị. Chứng kiến những hậu quả chiến tranh vẫn còn hiện hữu trong thời bình, ông cùng các đối tác Việt Nam xây dựng Dự án RENEW, thực hiện rà phá bom mìn, giáo dục phòng tránh vật nổ và hỗ trợ nạn nhân. Tại Tọa đàm ngày 25/9, ông nói rằng hòa bình phải được vun đắp mỗi ngày và ông đã học được điều đó từ chính người dân Việt Nam.
Cùng hành trình ấy là PeaceTrees Vietnam, do bà Jerilyn Brusseau, chị gái một phi công Mỹ tử trận tại Quảng Trị năm 1969, đồng sáng lập. Trong ba thập niên qua, tổ chức này đồng hành cùng Quảng Trị trong rà phá bom mìn, trồng cây trên những vùng đất được làm sạch vật nổ, xây trường học, thư viện và hỗ trợ cộng đồng. Những vùng đất từng mang đầy dấu tích bom đạn dần có thêm cây xanh và những lớp học mới.
![]() |
| Bà Jerilyn Brusseau (trái), đồng sáng lập PeaceTrees Vietnam, trong một hoạt động tại di tích sân bay Tà Cơn (Quảng Trị), tháng 9/2023. (Ảnh: Báo Tuổi trẻ) |
Từ những hoạt động nhân đạo ban đầu, hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh từng bước trở thành một lĩnh vực quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Tháng 8/2026, sau khi bắt đầu nhiệm kỳ tại Việt Nam, Đại sứ Mỹ Jennifer Wicks chọn Quảng Trị là địa phương đầu tiên đến thăm, dâng hương tại Thành cổ và trao đổi về tiếp tục hợp tác rà phá bom mìn, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh, tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích. Quảng Trị cũng được chọn đăng cai chương trình Đối tác Thái Bình Dương hai năm liên tiếp 2025 và 2026.
Những hoạt động ấy góp phần hàn gắn hậu quả chiến tranh, xây dựng lòng tin và mở rộng hợp tác giữa những người từng ở hai phía.
Sau Lễ hội Vì Hòa bình lần đầu được tổ chức năm 2024, mùa lễ hội thứ hai năm 2026 mang chủ đề “Từ ký ức đến tương lai - Quảng Trị vì hòa bình”. Tỉnh cũng đang hướng tới xây dựng Quảng Trị thành “một không gian văn hóa, điểm đến vì hòa bình”, cùng với việc xây dựng Bảo tàng “Ký ức chiến tranh và khát vọng hòa bình” và định hướng nâng tầm Lễ hội Vì Hòa bình.
Tọa đàm quốc tế “Từ ký ức đến tương lai: Giá trị của hòa bình” ngày 25/9 nằm trong mạch hoạt động ấy. Phát biểu khai mạc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam, cho rằng ký ức không phải để khơi lại hận thù mà để hiểu và trân trọng hòa bình; không phải để chia rẽ các dân tộc mà để thúc đẩy sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau. Nếu được nhìn nhận bằng tinh thần nhân văn, ký ức có thể trở thành nền tảng cho hòa giải và hợp tác.
Trong thông điệp gửi tới Tọa đàm, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Hòa bình và Phát triển Việt Nam, người từng tham gia cuộc đàm phán Paris và ký Hiệp định Paris năm 1973, nhắc rằng “một dân tộc từng chịu nhiều mất mát bởi chiến tranh càng thấu hiểu giá trị của hòa bình; nhìn lại quá khứ là để hiểu những gì đã mất và trân trọng hiện tại, không phải để nuôi dưỡng hận thù”.
Ở góc nhìn văn hóa, GS.TSKH Vũ Minh Giang cho rằng hòa bình không chỉ là sự vắng bóng chiến tranh hay xung đột vũ trang mà còn là một trạng thái văn hóa, trong đó con người biết tôn trọng lẫn nhau và giải quyết bất đồng bằng đối thoại. Để lịch sử luôn là bài học nhưng không cản trở hành trình hướng tới tương lai, theo ông, cần “không lấp hố ngăn cách nhưng cũng không khoét rộng ra mà bắc cầu qua”.
Theo ông Đồng Huy Cương, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, kiến tạo hòa bình không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những hành động cụ thể, bền bỉ mỗi ngày.
Ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, nhấn mạnh việc hàn gắn vết thương chiến tranh không chỉ là tái thiết hạ tầng mà còn phải khôi phục niềm tin xã hội. Theo ông, giáo dục vì hòa bình và học hỏi liên văn hóa giúp người trẻ phát triển khả năng lắng nghe, đồng cảm, đối thoại và giải quyết khác biệt bằng biện pháp hòa bình.
Cuối Tọa đàm, các đại biểu cùng ký tên lên tấm pa-nô cầu chúc hòa bình đến với mọi người, mọi nhà, mọi quốc gia với thông điệp: “Chúng tôi ở đây, cùng nắm tay nhau ước nguyện: Hòa bình đến với mọi người, mọi nhà, mọi quốc gia! Không có chiến tranh với bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ lý do gì!”. Nội dung này được thể hiện bằng sáu ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc cùng tiếng Việt và sẽ được gửi tới Tổng Thư ký Liên hợp quốc qua đường ngoại giao.
Những thành phố biến ký ức chiến tranh thành giá trị hòa bình
Quảng Trị không phải nơi đầu tiên trên thế giới tìm cách biến hy sinh, đổ nát sau chiến tranh thành biểu tượng hòa bình và hợp tác. Kinh nghiệm của những thành phố đi trước cho thấy họ không dừng ở tưởng niệm. Họ xây dựng các thiết chế như bảo tàng, viện nghiên cứu, chương trình giáo dục, mạng lưới kết nghĩa và những diễn đàn định kỳ.
![]() |
| Các đại biểu tham dự Tọa đàm quốc tế “Từ ký ức đến tương lai: Giá trị của hòa bình” thực hiện nghi thức ký thông điệp hòa bình, ngày 25/9/2026. (Ảnh: Bảo Ngọc) |
Hiroshima là ví dụ điển hình. Năm 1949, Nhật Bản ban hành đạo luật xây dựng Hiroshima thành Thành phố Tưởng niệm Hòa bình. Công viên Tưởng niệm Hòa bình, Mái vòm Bom nguyên tử và Lễ tưởng niệm ngày 6/8 hằng năm đã biến thành phố thành một “Thủ đô tinh thần” của phong trào phi hạt nhân. Hiroshima còn là nơi khởi xướng mạng lưới các đô thị vì hòa bình quy tụ hàng nghìn thành phố thành viên trên thế giới.
Ở châu Âu, Coventry của Vương quốc Anh bị không quân Đức tàn phá nặng từ năm 1940. Người dân giữ lại phế tích nhà thờ cổ bên cạnh nhà thờ mới và chủ động kết nghĩa với Stalingrad rồi với Dresden - thành phố ở Đức từng bị không quân Anh tàn phá. Coventry tự định vị là “thành phố của hòa bình và hòa giải”, với mạng lưới cộng đồng hòa giải lan ra nhiều quốc gia.
Tại Pháp, Đài tưởng niệm Caen ở vùng Normandy được xây dựng như một “Trung tâm lịch sử vì hòa bình”; còn Verdun, nơi diễn ra trận đánh đẫm máu bậc nhất Thế chiến I, cũng đã có Trung tâm thế giới vì hòa bình.
Tại Việt Nam, năm 1999, Hà Nội được UNESCO trao danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”. Sự ghi nhận này không chỉ nói về ký ức lịch sử mà còn gắn với bình đẳng trong cộng đồng, xây dựng đô thị, giữ gìn môi trường sống và phát triển văn hóa - giáo dục cho thế hệ trẻ. Một thành phố vì hòa bình vì thế còn được nhìn nhận từ chính chất lượng cuộc sống hàng ngày của người dân.
Để hòa bình trở thành bản sắc của Quảng Trị
So với những thành phố trên, Quảng Trị có những lợi thế riêng: một hệ thống di tích dày đặc trải dài từ Đèo Ngang đến Đường 9 và những câu chuyện hòa giải thực chất với chính những người từng ở phía bên kia. Tuy vậy, con đường để hòa bình thực sự trở thành một phần bản sắc của vùng đất này còn nhiều việc phải làm.
![]() |
| Nghi thức thả chim bồ câu tại Tượng đài Mẹ Suốt bên dòng sông Nhật Lệ. (Ảnh: Bảo Ngọc). |
Thứ nhất là tiếp tục làm sạch đất. Không thể nói trọn vẹn về hòa bình khi bom mìn vẫn còn có thể đe dọa cuộc sống của người dân. Rà phá bom mìn, hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam và người khuyết tật cần tiếp tục là ưu tiên hàng đầu. Những kinh nghiệm Quảng Trị tích lũy trong quá trình này cũng có thể được chia sẻ với các vùng hậu xung đột khác trên thế giới.
Thứ hai là xây dựng các thiết chế tri thức. Một bảo tàng quốc gia là cần thiết nhưng chưa đủ. Quảng Trị cần một trung tâm hoặc viện nghiên cứu về hòa bình và hòa giải, gắn với các trường đại học trong và ngoài nước. Những tọa đàm quốc tế cũng có thể trở thành diễn đàn định kỳ để các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động hòa bình và những người trực tiếp tham gia quá trình hòa giải gặp gỡ, trao đổi.
Thứ ba là đưa giáo dục hòa bình vào trường học. Thành cổ, Vịnh Mốc, Hiền Lương và nhiều di tích khác có thể trở thành những “lớp học ngoài trời”, nơi thế hệ trẻ không chỉ được nghe kể về chiến tranh mà còn hiểu cái giá của chiến tranh và trách nhiệm gìn giữ hòa bình.
Thứ tư là phát triển du lịch ký ức có trách nhiệm. Kết nối các di tích chiến tranh với di sản thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng, biển Nhật Lệ, Cửa Tùng, Cửa Việt và hành lang kinh tế Đông - Tây có thể tạo ra những hành trình vừa có chiều sâu lịch sử - văn hóa, vừa mang lại sinh kế cho người dân. Nhưng ký ức chiến tranh không nên chỉ được khai thác như một sản phẩm thương mại.
Thứ năm là để người dân trở thành chủ thể. Hòa bình không chỉ nằm ở lễ hội, bảo tàng hay những chữ ký trên một tấm pa-nô. Nó phải được thể hiện ở một đô thị đáng sống, sự công bằng xã hội, môi trường trong lành… đúng như tiêu chí mà UNESCO từng dùng để đánh giá Hà Nội gần 30 năm trước.
Cuối cùng là sự kiên trì. Hiroshima của Nhật Bản đã mất hàng chục năm để được quy chế như hiện nay. Coventry của Anh mất hơn nửa thế kỷ để định vị hình ảnh của mình. Một danh hiệu của UNESCO có thể đến sau vài năm vận động, nhưng một bản sắc văn hóa hòa bình đích thực cần được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ.
Năm xưa, mẹ Suốt chèo đò qua sông Nhật Lệ giữa bom đạn để đưa bộ đội sang sông. Hôm nay, dưới chân tượng Mẹ, những cánh chim bồ câu bay lên mang theo lời nguyện ước cao đẹp của cả người Việt và bạn bè quốc tế.
Quảng Trị không chọn quên đi quá khứ, cũng không chọn sống mãi trong nó. Vùng đất này chọn giữ ký ức như một bài học, từ đó tiếp tục những công việc cụ thể về khắc phục hậu quả chiến tranh, hòa giải, hợp tác và phát triển. Đó cũng là cách Quảng Trị làm cho thông điệp hòa bình của mình có sức sống lâu dài.
Tin bài khác
Sinh viên Việt – Lào cùng trải nghiệm văn hóa tại Ngày hội “Hương Chăm Pa Sắc Sen”
Người nước ngoài kể chuyện Việt Nam bằng tiếng Việt









