Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh – Di sản tinh thần giải phóng dân tộc và nâng cao vị thế Việt Nam
| Chuỗi hoạt động tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và lan tỏa tình đoàn kết truyền thống Việt - Trung TP Hồ Chí Minh: nhiều hoạt động giao lưu hữu nghị giữa Việt Nam - Malaysia |
“Không thể giải quyết được bất kỳ vấn đề nào ở cấp độ nó xuất hiện” (Albert Einstein).
Lịch sử Việt Nam đầy những cuộc chiến tranh chống xâm lược và những cuộc đấu tranh anh dũng vì độc lập, vì vậy, các tư tưởng của nhà thông thái Trung Hoa cổ đại Tôn Tử hoàn toàn phù hợp với việc phân tích lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam. Trong cuốn “Binh pháp”[1] nổi tiếng Tôn Tử nói rằng, trong cơ sở của chiến tranh có 5 điều cơ bản: “Cố kinh chi dĩ ngũ sự, hiệu chi dĩ kế, nhi sách kỳ tình: nhất viết đạo, nhị viết thiên, tam viết địa, tứ viết tướng, ngũ viết pháp”[2]. Giải nghĩa: “phải dựa vào năm điều sau đây mà phân tích, nghiên cứu, so sánh các điều kiện tốt xấu giữa hai bên đối địch, để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh: Một là Đạo. Hai là Thiên. Ba là Địa. Bốn là Tướng. Năm là Pháp”[3]. Tiếp đó, Tôn Tử viết: “Đạo giã, lệnh dân dữ thượng đồng ý giã, cố khả dĩ dữ chi tử, khả dĩ dữ chi sinh, nhi bất úy nguy”[4]. Giải nghĩa: “Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức. Có như vậy, trong chiến tranh mới có thể bảo nhân dân vì vua mà chết, vì vua mà sống, không sợ hiểm nguy”[5].
Ở Việt Nam, cho đến nay, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang đóng vai trò chính của Đạo (道) mà Tôn Tử nói đến. Vào các thế kỷ XIX và XX, nhân dân Việt Nam đã trải qua những thử thách nặng nề, việc sọan thảo và phổ biến di sản tinh thần đó đóng vai trò then chốt, mang tính hiệu quả phát triển phong trào giải phóng dân tộc. Thế giới quan của Hồ Chí Minh ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc đến Việt Nam hiện nay. Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh hoa của nó. Theo tôi, cách dịch truyền thống thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh” ra tiếng Nga là «Идеи Хо Ши Мина» sẽ dẫn đến việc làm mất tính hệ thống của các quan điểm của Người về thế giới và công nghệ đấu tranh giải phóng dân tộc, vì «идеи» / “ý tưởng” là tập hợp không gắn kết những ý kiến riêng biệt, về các chủ đề khác nhau, mà trong trường hợp chúng ta đang xem xét thì không phải như vậy.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (người đầu tiên bên trái hàng ngồi) chụp ảnh với một số đại biểu tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản của tại Moskva, Nga từ ngày 17/6 đến 8/7/1924. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN) |
Hệ tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở quyền lực nhà nước của Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, là công nghệ tới hạn mà việc nghiên cứu nó đã mở ra con đường dẫn đến giải phóng dân tộc. Về bản chất, ở đây nói đến việc nghiên cứu hợp phần then chốt thắng lợi của Việt Nam trong các cuộc chiến tranh ở Đông Dương, cũng như trong việc tiến hành thành công các cải cách kinh tế ở cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI. Vấn đề này, dù rất cấp thiết, cho đến nay, vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở ngành Phương Đông học hiện nay vì nó bị ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng và sự tuyên truyền. Việc không hiểu các động cơ và các cơ chế của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã được Hồ Chí Minh nói đến đã dẫn những đối thủ mạnh nhất đến những sai lầm trong việc đánh giá tình hình và cuối cùng, đến thất bại nặng nề sau đó. Chính các công nghệ của Quốc tế Cộng sản đã được Hồ Chí Minh làm cho thích ứng với hiện thực Việt Nam và đã cho phép động viên nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc và chiến thắng trong các cuộc đối đầu không cân sức với các nước mạnh nhất trên thế giới (Pháp, Mỹ, Trung Quốc). Trong thế giới quan, và do đó, trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, ta thấy sự kết hợp chặt chẽ các trào lưu tư tưởng triết học và chính trị khác nhau của cả phương Đông lẫn phương Tây.
Khi giải quyết vấn đề chế độ thực dân, vấn đề mà một vài thế hệ người Việt Nam đã giải quyết không thành công, Hồ Chí Minh đã tìm được con đường hiệu quả nhất, công nghệ để đạt được mục tiêu – nâng lên cấp độ hệ thống cao hơn – điều mà không người tiền nhiệm nào làm được.
Mọi người đều biết rằng, con người cảm thụ thế giới xung quanh thông qua lăng kính quan niệm của mình. Các nhà tâm lý đã xem xét tỷ mỉ từng chi tiết cơ chế thay đổi căn bản từ lý tưởng đến hành vi ở cấp độ cá nhân và nhóm. Những nghiên cứu của Robert Dilts – một chuyên gia lớn về ngôn ngữ lập trình tư duy học (NLP), người đã phát triển các tư tưởng Bertrand Russell và Gregory Bateson về vai trò của “các cấp độ” logic, hoặc tư duy–logic (neurological levels), cho phép hiểu được các cơ chế hình thành và thay đổi hành vi của con người (Xem hình vẽ 1).
![]() |
Theo luận thuyết trên, hành vi của con người được quy định bởi hình tháp các cấp độ tư duy–logic, nơi mà mỗi kiểu hoạt động từ tinh thần đến giác quan đều phù hợp với cấp độ của nó. Cần phải có sự phân chia đó để không nhầm lẫn các quá trình tâm lý với các quá trình tư duy ở các cấp độ khác nhau và bằng cách đó tách lý tưởng và chính kiến khỏi các mô hình hành vi và phản xạ có điều kiện.
Như Robert Dilts viết: “Mô hình các cấp độ (tư duy–logic) cho rằng, trong khuôn khổ một người riêng biệt hoặc một nhóm có hình tháp các cấp độ tự nhiên mà ở đó các loại quá trình logic khác nhau được thực hiện. Mỗi cấp độ tổng hợp, tổ chức và đưa kiểu hoạt động này hoặc hoạt động khác xuống cấp độ thấp hơn. Một sự thay đổi nào đó ở cấp độ trên cũng nhất định sẽ được truyền xuống dưới, gây ra những thay đổi ở các cấp thấp hơn. Tuy nhiên, do mỗi cấp tiếp sau đều liên quan đến kiểu quá trình logic, mà sự thay đổi nào đó ở cấp dưới không nhất thiết được thể hiện ở các cấp trên”[6].
Việc sử dụng mô hình trên cho phép chia ra các quá trình tư duy-logic thành các loại khác nhau vì “chính kiến được hình thành và thay đổi dưới tác động của các quy luật khác so với các phản xạ hành vi. Việc khuyến khích hoặc trừng phạt hành vi nào đó không nhất thiết ảnh hưởng đến chính kiến của con người vì hệ thống chính kiến là kiểu quá trình tâm lý và thần kinh khác với những biểu hiện hành vi”[7].
Theo quan điểm tâm lý học chính trị, luận điểm trên được khẳng định qua những ví dụ từ lịch sử Việt Nam: chẳng hạn, thực dân Pháp mưu toan đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc với sự giúp đỡ của các công nghệ đe dọa và sử dụng đàn áp tàn bạo, tuy nhiên, họ không thể thay đổi căn bản mô hình hành vi của người Việt Nam. Trong suốt 80 năm tồn tại của chế độ thực dân, hệ thống trừng trị đủ loại tỏ ra bất lực trước sức mạnh của truyền thống văn hóa dân tộc. Điều đó được giải thích bằng việc những thay đổi ở cấp dưới (tri giác quan) không tác động lâu dài đến cấp cao hơn (giá trị). Quy tắc “đàn áp càng mạnh thì chống đối càng mạnh” cũng được giải thích bằng tác động của cơ chế đó. Tuy nhiên, để chống đối hiệu quả còn cần phải có một tổ hợp nhiều tầng bậc mà ở đó mọi mặt hoạt động của con người từ lý tưởng, các mục tiêu, chiến lược đến các công nghệ và các hành động cụ thể được thể hiện ở dạng tổng hợp ở các cấp độ khác nhau. Chỉ trong trường hợp đó mới xuất hiện các cơ hội thay đổi hành vi của con người và chiến thắng. Bảng 1 chỉ ra những thay đổi diễn ra ở các cấp độ tư duy-logic.
![]() |
Những thay đổi diễn ra từ trên xuống dưới theo quan điểm hình tháp và trừu tượng hóa cấp độ, xuống cấp độ thấp hơn ở khía cạnh cụ thể hóa và lan truyền trong xã hội. Việc đó thay đổi cả các cá nhân lẫn xã hội nói chung, cũng như thay đổi bối cảnh của cuộc đấu tranh giành tự do và thay đổi các điều kiện bên ngoài.
Chúng tôi xin lưu ý rằng, mô hình phân tích này là do các chuyên gia lớn về điều khiển học, toán học và tâm lý phương Tây nghiên cứu vài thập niên ở nửa sau thế kỷ XX, trong khi đó thì Hồ Chí Minh đã sử dụng hệ thống tương tự trong thực tiễn quá trình đấu tranh chính trị ở quy mô toàn dân tộc từ đầu thế kỷ XX, khi hiểu toàn bộ sức mạnh của từ in ấn!
Theo tôi, cách mạng Việt Nam còn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở khía cạnh tâm lý học chính trị. Nếu áp dụng mô hình “các cấp độ tư duy-logic” để phân tích những thay đổi trong hệ thống chính trị và trong xã hội Việt Nam ở thế kỷ XX, thì ta phát hiện ra rằng, sự xuất hiện và sự lan truyền hệ tư tưởng Hồ Chí Minh gây ra sự biến đổi hệ thống rất sâu sắc ở chúng.
Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh ở dạng cô đọng nhất chứa đựng một chương trình nhiều cấp độ. Sau khi đi vào nhận thức con người, chương trình đó bắt đầu được hiện thực hóa bằng cách thay đổi chính kiến của con người và động viên họ hoạt động tích cực để cải tạo môi trường xung quanh không phù hợp với quan niệm của họ. Trong chương trình đó chứa đựng sứ mệnh, mục tiêu, phương hướng, giải pháp, thẩm quyền. Những cái đó khuyến khích mọi người sử dụng các nguồn lực, chuẩn bị và vạch ra các công nghệ, cũng như các hướng, các hình thức và phương pháp đấu tranh nữa.
Sau khi bám trụ ở cấp tinh thần, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh ảnh hưởng liên tục và một cách hệ thống đến các cấp thấp hơn, gây ra “phản ứng dây chuyền” và làm đầy chúng bằng các nội dung mới. Những người tiếp xúc với nội dung của hệ tư tưởng đó, thậm chí chỉ từng phần, có cái nhìn khác về vấn đề giải phóng dân tộc và con đường giải quyết nó.
Sự lan truyền hệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong quần chúng gây ra những biến đổi cách mạng thực sự, nghĩa là những biến đổi thế giới quan chủ yếu: những biến đổi đó dẫn đến những thay đổi trong hành vi của hàng triệu đồng bào của Người, đến những thay đổi thích hợp trong hệ thống quyền lực chính trị ở Việt Nam.
Bảng 2 cho thấy người dân Việt Nam đã nhận thức thế giới xung quanh và vị trí của mình như thế nào trước và sau khi hệ tư tưởng Hồ Chí Minh lan truyền ở Việt Nam.
![]() |
![]() |
![]() |
Tùy thuộc vào cấp độ tư duy-logic của việc xử lý vấn đề, khi đưa ra quyết định, người ta trả lời những câu hỏi khác nhau: ta là ai và ta sống để làm gì? Cái gì đúng, cái gì không đúng? Có thể làm gì, và cái gì không được làm? Cái gì có thể tiếp nhận và cái gì không thể tiếp nhận? Cũng như cần phải làm gì và làm như thế nào để thay đổi thế giới xung quanh. Cùng với việc phát triển và truyền bá hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày một nhiều trong nhận thức của đồng bào đã diễn ra nhiều thay đổi, và những thay đổi đó đã thay đổi thái độ của họ trong cuộc sống và hành vi của họ.
Từ bảng 2 ta thấy rằng, trong giai đoạn thực dân, nội dung của tất cả các cấp độ tư duy-logic đều bị xói mòn, tạo tình trạng bất hòa nhận thức. Chính vì vậy người ta bị rối tung lên, điều đó làm cho họ không có khả năng đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì các quyền của mình, không cho phép họ tìm thấy điểm tựa để sử dụng sức mạnh.
Nội dung của cột cuối cùng không phải là kết quả của sự trùng lặp ngẫu nhiên của các hoàn cảnh, mà là kết quả của một công việc có mục tiêu rõ rệt của bản thân Hồ Chí Minh, cũng như của hệ thống các quan điểm do Người xây dựng. Ở các cấp độ khác nhau, hệ thống quan điểm đó đã chiếm lĩnh trái tim và khối óc đồng bào của Người, thay đổi suy nghĩ của họ, và họ thay đổi bản thân mình, thay đổi thế giới xung quanh.
Việc sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, mà với sự giúp đỡ của ngôn ngữ đã diễn ra sự tác động lẫn nhau giữa mọi người, cho phép ở mức độ nhất định lập trình nhận thức và hành vi của con người, nghĩa là thay đổi thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà “Tân ước. Gioan” trong di huấn mới được bắt đầu bằng câu : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời….”[8].
Những lời do Hồ Chí Minh nói và những chữ do Người viết thoạt đầu thay đổi tư tưởng, suy nghĩ của mọi người, sau đó, họ thay đổi chính kiến và mô hình hành vi của họ. Trong “Tuyên ngôn độc lập” do Hồ Chí Minh viết có những dòng sau: “… chúng tôi … trịnh trọng tuyên bố với toàn thể thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[9].
Hồ Chí Minh có thể tìm được những từ đi vào nhận thức và tiềm thức của đồng bào, khởi động chương trình đã lập và cùng với việc thực hiện nó diễn ra những thay đổi nhất quán ở các cấp độ khác nhau. Những điều đó đã dẫn đến khởi động quá trình giải phóng dân tộc. Chính hệ tư tưởng Hồ Chí Minh là hợp phần chính, vô hình đối với những người không được biết sức mạnh và thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh với những kẻ địch hùng mạnh.
Giai đoạn tiếp theo của phong trào giải phóng dân tộc – giai đoạn có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập có điểm khác biệt là đã xuất hiện điểm tựa để sử dụng sức mạnh ở quy mô toàn dân tộc. Chính vì vậy mà phong trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh trở nên giống như một chiếc lò xo đặc biệt, hoàn toàn do bọn thực dân dịch chuyển, nhưng bắt đầu từ thời điểm đó, sự lùi bước chấm dứt và chiếc lò so bắt đầu nén lại. Năng lượng bật ra của nó là sự chống lại ngày càng hiệu quả, và sau đó năng lượng đó phá tan chế độ thực dân và khôi phục chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Đó là quá trình lâu dài và phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các lực lượng và sự giúp đỡ, ủng hộ của những đồng minh có ảnh hưởng.
Mặc dù hệ tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam, cho đến nay, vấn đề này còn được nghiên cứu rất ít ở Phương Tây, nơi người ta thích nhìn vào Việt Nam qua lăng kính hệ tư tưởng của mình, dán vào các quá trình khách quan những nhãn hiệu không có gì giống hiện thực. Sau hàng thập kỷ, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Macnamara đã buộc phải thừa nhận điều đó. Khi nêu ra vô số sai lầm của Mỹ ở Việt Nam, ông ta chỉ rõ : “Chúng ta cũng hoàn toàn đánh giá không đầy đủ khía cạnh chủ nghĩa dân tộc của phong trào Hồ Chí Minh. Chúng ta đánh giá ông ta trước hết như đánh giá một người cộng sản, và chỉ sau đó mới đánh giá như một người theo chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam”[10].
Các nhà chiến lược Mỹ không nhìn thấy đặc điểm chính đoàn kết nhân dân xung quanh Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong những năm đó và là sức mạnh tinh thần liên kết dân tộc ngày nay. Trong bản Hiến pháp gần đây của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có viết riêng vai trò lãnh đạo của hệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà nước và xã hội Việt Nam[11].
Khi không có hệ tư tưởng, hoặc khi nó không phù hợp với những thách thức và yêu cầu của thời đại thì khủng hoảng hệ thống sẽ bắt đầu. Như A. I. Fursov, nhà Sử học nổi tiếng của Nga đã nhận xét cách đây chưa lâu : “Số phận của những người không có hệ tư tưởng là du ngoạn bên lề lịch sử”[12].Ở Việt Nam thế kỷ XIX, khủng hoảng đó tăng thêm bởi sự xâm lược của thực dân. Ở Việt Nam trước Hồ Chí Minh cũng đã có những người yêu nước chân chính, nhưng họ không có cái nhìn hệ thống và, vì vậy, không thể đưa ra chiến lược hiệu quả của cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống thực dân và chống đế quốc ở quy mô toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã đưa các nhiệm vụ của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam vào bối cảnh toàn cầu của phong trào cộng sản. Điều đó cho phép những người yêu nước Việt Nam tiếp cận các công nghệ tiên tiến và các nguồn lực để tổ chức một cách hiệu quả phong trào giải phóng dân tộc.
Theo quan điểm của tôi, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh - đó là hệ thống các quan điểm của vị lãnh tụ dân tộc của Việt Nam. Về quá trình thực hiện cách mạng dân tộc của Việt Nam hệ thống đó bao gồm các tư tưởng của các cuộc cách mạng Pháp và Mỹ ở dạng được chỉnh lý lại, các thành tố của chủ nghĩa Mác - Lê nin, cũng như của các trường phái triết học truyền thống đối với các nước Viễn Đông được hệ thống lại trên cơ sở văn hóa dân tộc của Việt Nam. Việc nghiên cứu và truyền bá hệ thống đó tác động quyết định đến việc hình thành các định hướng tinh thần và các tư tưởng kiểu mới. Điều đó cho phép thực hiện thống nhất các lực lượng yêu nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và đưa ra công nghệ đấu tranh hiệu quả chống ngoại xâm. Việc áp dụng hệ thống đó vào quá trình giáo dục đã dẫn đến sự xuất hiện hệ thống tự tái tạo trong đào tạo cán bộ của dân tộc. Sau khi Hồ Chí Minh đi xa, những cán bộ đó đã thực hiện sáng tạo di chúc của Người, thống nhất đất nước và tiến hành các cải cách kinh tế thành công. Hiện nay, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ tư tưởng chính thức của Đảng cầm quyền và của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tác động một cách hệ thống với quy mô lớn đến tất cả mọi lĩnh vực xây dựng nhà nước.
Trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh viết: “mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[13].
Nhân dân Việt Nam đã thực hiện được di chúc của Người lãnh tụ dân tộc của mình và hiện nay nước Việt Nam độc lập, thống nhất đang phát triển năng động ở Đông Nam Á. Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, phát triển thành công nền kinh tế nhiều thành phần, kiên cường bảo vệ các lợi ích dân tộc của mình, đứng vững trên đôi chân của mình và tin tưởng nhìn vào tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dilts R., Những tiêu điểm của ngôn ngữ. Thay đổi chính kiến với sự giúp đỡ của Ngôn ngữ lập trình tư duy, Xanh Pê téc bua, Piter, 2014.
2. Tôn Tử, Binh pháp, Bản dịch của N. I. Konrad // Binh pháp: hợp tuyển tư tưởng chiến tranh, Xanh Pê téc bua, Amfora, 2009.
3. Fursov A. I., Số phận của những người không có hệ tư tưởng là lãng du bên lề lịch sử // URL : http://www.Makanune.ru/articles/19944.
4. Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Mát x cơ va, Tiến bộ, 1979.
5. McNamara R. S. In retrospect. The tragedy and lessons of Vietnam. — New York: Random House, 1995. Р. 32–33.
6. Tân Ước // [URL]: http://www.conggiaovietnam.net/kinhthanh/tanuoc.htm
7. Toàn văn Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam // [URL]: http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toan-van-hien-phap-nuoc-chxhcn-viet-nam-201311281149826.htm
8. Tôn Tử. Binh Pháp, кит. 孫子兵法
9. Tôn Tử. Binh pháp // [URL]: http://vndoc.com/download/binh-phap-ton-tu-ebook/10315
10. Trương Nghiên Quân. Tôn Tử. Bàn về Binh Pháp. — HN: NXB Thế giới, 2010.
[1] Tôn Tử. Binh Pháp, 孫子兵法
[2] Trương Nghiên Quân, Tôn Tử, Bàn về binh pháp, Hà Nội, Nhà xuất bản Thế giới, 2010, tr. 12.
[3] Tôn Tử. Binh pháp // [URL]: http://vndoc.com/download/binh-phap-ton-tu-ebook/10315
[4] Trương Nghiên Quân, sách đã dẫn, tr. 13.
[5] Tôn Tử. Binh pháp // [URL]: http://vndoc.com/download/binh-phap-ton-tu-ebook/10315
[6] Xem Dilts Robert, Những tiêu điểm của ngôn ngữ. Sự thay đổi chính kiến với sự giúp đỡ của Ngôn ngữ lập trình tư duy, Xanh Pê téc bua, Piter, tr. 193-194.
[7] Sách đã dẫn, tr. 194.
[8] Tân Ước. Gioan 1. 1// [URL]: http://www.conggiaovietnam.net/kinhthanh/tanuoc.htm
[9] Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Tuyển tập, Mátxcơva, Tiến bộ, 1979, tr. 9-10.
[10] McNamara R. S. In retrospect. The tragedy and lessons of Vietnam, New York: Random House, 1995, p. 32–33.
[11] Xem: Toàn văn Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam // [URL]:
http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toan-van-hien-phap-nuoc-chxhcn-viet-nam-201311281149826.htm
[12] Xem: Andrei Fursov, Số mệnh của những kẻ không có hệ tư tưởng là du ngoạn bên lề lịch sử // [URL]: http://www.nakanune.ru/articles/19944/
[13] Hồ Chí Minh, Di chúc, Tuyển chọn, Mátxcơva, Tiến bộ, 1979, tr. 265-266.
Tin bài khác
Niềm vui lao động của nạn nhân chất độc da cam
Gần 367 tỷ đồng đăng ký ủng hộ người nghèo










