Ủy ban Công tác về các TCPCPNN - Cơ chế liên ngành hiệu quả, thiết thực
| |
Ông Đôn Tuấn Phong - Phó Chủ tịch phụ trách kiêm Tổng Thư ký VUFO, Phó Chủ nhiệm Ủy ban.
- Xin ông chia sẻ về thành tựu nổi bật nhất trong 20 năm hoạt động của Ủy ban?
Việt Nam có lẽ là đất nước duy nhất trên thế giới có cơ chế về mặt tổ chức và chính sách hoàn thiện nhất cho hoạt động của các TCPCPNN. Rất ít quốc gia có cơ quan đầu mối quốc gia để cung cấp những thông tin cần thiết, giải đáp đầy đủ và chi tiết những thắc mắc cho các tổ chức.
Qua đó, cơ chế Ủy ban giúp giảm bớt thời gian tìm hiểu, nghiên cứu địa bàn cho các tổ chức; đồng thời giúp điều phối các hoạt động, dự án, chương trình của các TCPCPNN phù hợp với yêu cầu và ưu tiên quốc gia. Bên cạnh đó, cơ chế Uỷ ban giúp điều phối các chương trình, dự án không bị trùng lặp tại từng vùng, từng địa bàn. Vì vậy, việc có cơ quan điều phối cấp quốc gia là hết sức quan trọng; đảm bảo đúng chính sách, phù hợp nhu cầu, phù hợp ưu tiên, khả thi và có thể phát huy tối đa hiệu quả dự án, chương trình.
Điểm nhấn của Ủy ban chính là vừa kết hợp hài hòa sự vận động viện trợ PCPNN cho phát triển, đồng thời đảm bảo tăng cường hợp tác gắn kết với đối ngoại nhân dân và quản lý tốt. Đặc biệt, Ủy ban là cơ chế phối hợp liên ngành. Hiếm có cơ chế phối hợp liên ngành nào hoạt động chặt chẽ hiệu quả, thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài như vậy.
- Xin ông cho biết, các TCPCPNN có vai trò như thế nào trong việc thúc đẩy ngoại giao nhân dân, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, vì đoàn kết quốc tế và phát triển thịnh vượng? Và trong 20 năm qua, các tổ chức PCPNN đã có những đóng góp nổi bật nào tại các diễn đàn quốc tế?
Có thể nói đây là điểm rất quan trọng trong công tác PCPNN. Bởi lẽ thông qua các hoạt động của mình, bằng việc bạn bè quốc tế đến với Việt Nam sẽ biết hơn, hiểu hơn và chia sẻ nhiều hơn với Việt Nam. Với những gì họ thấy ở Việt Nam, họ tuyên truyền cho bạn bè quốc tế rộng hơn về tình hình, chính sách phát triển của Việt Nam, thậm chí là khó khăn thách thức của Việt Nam trong quá trình phát triển để từ đó duy trì các nguồn lực cho chương trình, dự án tại Việt Nam.
Ví dụ, có những TCPCPNN có mạng lưới những người bảo trợ lên tới hàng triệu người. Với một thông tin tích cực từ Việt Nam tới được 1 triệu người thì rõ ràng thông tin về Việt Nam đã được tuyên truyền bằng cấp số nhân. Như vậy có thể thấy tổng thể là thông qua hoạt động của mình, các TCPCPNN đã góp phần tuyên truyền cho bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới nhiều hơn về một Việt Nam đang đổi mới, phát triển, đời sống ngày càng thịnh vượng và chính sách ngày càng cởi mở.
Trên các diễn đàn quốc tế, các TCPCPNN, các tổ chức nhân dân nước ngoài cũng ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam với nhiều hình thức khác nhau. Họ bày tỏ chính kiến một cách trực tiếp, bảo vệ hình ảnh Việt Nam, thông tin cho cộng đồng quốc tế về chính sách của Việt Nam, nhất là các vấn đề như tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; góp phần phản bác lại những luận điệu không đúng về tình hình thực tế ở Việt Nam.
Thứ hai, các tổ chức PCPNN, các tổ chức nhân dân nước ngoài giúp đỡ và hỗ trợ Việt Nam về nội dung khi tham gia các diễn đàn quốc tế. Đây cũng là điểm hết sức quan trọng, đặc biệt khi chúng ta tham gia các diễn đàn quốc tế trong đó có nhiều nội dung, vấn đề, thành phần tham dự khác nhau.
Việc hỗ trợ Việt Nam về mặt nội dung cũng đảm bảo sự tham gia, đóng góp tích cực, trách nhiệm của chúng ta. Ngoài ra, các TCPCPNN cũng giúp chúng ta phương pháp hữu hiệu để đấu tranh chống lại luận điệu không thích hợp hay không phản ánh thực tế về Việt Nam.
Thứ ba là sự tài trợ cho sự tham gia của chúng ta tại các diễn đàn quốc tế. Đây cũng là một thực tế, bởi lẽ chúng ta không đủ nguồn lực để tham gia tất cả các diễn đàn. Với nguồn lực hạn hẹp nhưng chúng ta rất muốn tăng cường tham gia đóng góp, bày tỏ tiếng nói, chia sẻ thông tin, tuyên truyền về đất nước và con người Việt Nam tại nhiều diễn đàn quốc tế. Sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế để chúng ta có thể tham gia được các diễn đàn đó cũng hết sức quý báu.
- Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO) là cơ quan thường trực cho Ủy ban. Vậy ông đánh giá thế nào về vai trò của VUFO trong quá trình triển khai công tác PCPNN thời gian qua? Trong quá trình triển khai, VUFO gặp những khó khăn, thuận lợi gì thưa ông?
Trước khi Ủy ban được thành lập thì VUFO cũng đã được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối trong quan hệ với các TCPCPNN. Nhưng khi đó chưa có cơ quan quản lý công tác PCPNN. Vì vậy, khi Ủy ban là cơ quan liên ngành quản lý hoạt động của các TCPCPNN được thành lập, thực sự tạo thuận lợi rất lớn cho các TCPCPNN, cho các Bộ, ngành địa phương và các tổ chức của Việt Nam trong quan hệ với các TCPCPNN.
Trong khuôn khổ của Ủy ban, VUFO được giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực, giải quyết các vấn đề thường xuyên liên quan đến các TCPCPNN; là đầu mối trong quan hệ và vận động nguồn viện trợ của các TCPCPNN; gắn bó chặt chẽ công tác PCPNN với công tác đối ngoại nhân dân; tranh thủ nguồn viện trợ của các TCPCPNN với các mục tiêu về hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.
Thuận lợi cơ bản khi triển khai nhiệm vụ liên quan đến công tác PCPNN của VUFO là sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chính phủ; sự quan tâm thường xuyên, liên tục, đặc biệt thông qua những chủ trương, chính sách cụ thể về công tác PCPNN; có tính định hướng, dẫn dắt cho công tác này từ TƯ đến địa phương. Thứ hai là sự hợp tác chặt chẽ của các Bộ, ngành và địa phương trong công tác PCPNN từ quản lý đến vận động, trong quá trình lập chính sách cũng như trong quá trình triển khai các hoạt động cụ thể. Bên cạnh đó, niềm tin của các tổ chức đối tác nước ngoài, của các TCPCP cũng là thuận lợi lớn với VUFO. Trong quá trình dài như vậy, VUFO luôn nhận được sự hợp tác chặt chẽ, chân tình và hiệu quả của đối tác, tổ chức PCPNN khi đến Việt Nam. Chính những yếu tố đó đã giúp VUFO hoàn thành công việc của mình cùng nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ làm công tác này qua các thời kỳ.
Trong quá trình ấy cũng có những khó khăn nhất định. Trong một cơ chế Ủy ban liên ngành, yêu cầu về sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan là rất lớn. Các cơ quan khác là các Bộ, ngành chức năng; trong khi đó VUFO là tổ chức chính trị - xã hội. Ở mức độ nhất định, có thể nói đây là sự hạn chế khi đề xuất những chủ trương, chính sách trực tiếp từ phía VUFO.
Thứ hai là về mặt nguồn lực. VUFO thực hiện nhiệm vụ này trong điều kiện khá eo hẹp về biên chế và kinh phí. Ủy ban công tác về các TCPCPNN không có bộ máy, không có nhân sự, kinh phí riêng mà sử dụng bộ máy, biên chế của VUFO. Việc thiếu nguồn lực cũng ảnh hưởng nhất định trong việc triển khai các nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức PCPNN, tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động của các tổ TCPCPNN, cũng như quá trình hợp tác hiệu quả với các cơ quan, tổ chức.
|
Dự án mở rộng đường tới trường cho trẻ em Kiên Giang do tổ chức ActionAid Thuỵ Điển thực hiện.
- Ông có thể cho biết công tác xúc tiến, vận động viện trợ PCPNN trong thời gian qua đã đạt được những kết quả ra sao? Ông đánh giá như thế nào về những kết quả ấy?
Với tư cách là cơ quan đầu mối trong quan hệ và vận động viện trợ PCPNN, VUFO trong những năm vừa qua đã nỗ lực hết sức để tăng cường, mở rộng hợp tác với các tổ chức PCPNN; vận động nguồn lực tài chính từ các tổ chức PCPNN để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
Trước hết về mặt chính sách, VUFO đã liên tục đề xuất với Đảng, Nhà nước những chủ trương, chính sách để tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức PCPNN đến Việt Nam.
Thứ hai, VUFO cũng đã kiến nghị và Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chương trình quốc gia xúc tiến, vận động viện trợ PCPNN trong một số giai đoạn từ 2006-2010, từ 2013-2017 và hiện nay đang đề xuất với Thủ tướng xem xét và phê duyệt Chương trình Quốc gia cho giai đoạn tiếp theo.
Chương trình Quốc gia là một văn bản có tính định hướng ưu tiên đối với hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN. Nói cách khác, chúng ta chủ động nêu rõ những ưu tiên, nhu cầu của Việt Nam ở các Bộ, ngành địa phương và khuyến khích các tổ chức PCPNN đầu tư, hỗ trợ các lĩnh vực đó để phối hợp với các nguồn lực Nhà nước, từ TƯ tới địa phương nhằm phát huy hiệu quả của các nguồn lực đầu tư cho phát triển.
Thông qua Chương trình Quốc gia này, cùng với các biện pháp vận động viện trợ, cũng như tăng cường chia sẻ thông tin, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và viện trợ của các tổ chức PCPNN bằng các hoạt động vận động viện trợ tại chỗ, cũng như ở nước ngoài. Từ đó, công tác vận động viện trợ đã đạt được kết quả nhất định.
Đặc biệt giá trị viện trợ trong những năm vừa qua là đáng được ghi nhận. Từ năm 1996 đến năm 2017, tổng giá trị viện trợ PCPNN giải ngân giúp Việt Nam trực tiếp ước tính khoảng 4,1 tỉ USD. Đây là nguồn lực không lớn so với GDP nhưng là nguồn lực có ý nghĩa giúp giải quyết một phần khó khăn về kinh tế - xã hội, giảm nghèo và phát triển bền vững ở những ngành, lĩnh vực, địa phương có dự án.
- Ông có thể chia sẻ những điểm mới trong Chương trình Quốc gia về công tác PCPNN giai đoạn tới?
Để có thể thích ứng được với các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sau này, chúng tôi dự kiến Chương trình Quốc gia xúc tiến, vận động viện trợ PCPNN trong giai đoạn từ nay đến năm 2025.
Chương trình này đang trong quá trình xây dựng và ở giai đoạn cuối. Trước hết về mục tiêu của chúng ta trong giai đoạn tới là tăng cường hợp tác với các TCPCPNN vì mục tiêu nhân đạo và phát triển.
Các lĩnh vực ưu tiên trong thời gian tới vừa mang tính truyền thống nhưng cũng vừa mang tính thời đại. Có những vấn đề chúng ta đã giải quyết hết sức nỗ lực trong những năm vừa qua nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn. Ví dụ như khắc phục hậu quả chiến tranh: Rà phá bom mìn, vật liệu chưa nổ; tẩy rửa những điểm nhiễm chất độc hóa học; hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật…
Trong vấn đề mới về ứng phó với biến đổi khí hậu, đây không phải là vấn đề riêng của Việt Nam mà cộng đồng quốc tế cũng rất chia sẻ và vào cuộc với chúng ta. Nhiều tổ chức cũng rất quan tâm vấn đề này và cũng đang dành những nguồn lực cao nhất cho các nỗ lực của Việt Nam với ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng ta sẽ phải lựa chọn cách thức phù hợp để hợp tác với các tổ chức PCP trong nội dung này.
Chương trình quốc gia sắp tới cũng sẽ xác định những biện pháp tổ chức thực hiện để đảm bảo sự tham gia của các cấp ngành, người dân, cộng đồng từ quá trình lập kế hoạch đến thiết kế, triển khai, kiểm tra, giám sát và đánh giá các dự án, chương trình do các tổ chức PCPNN tài trợ.
Về mặt chính sách, Chương trình Quốc gia dự kiến sẽ kiến nghị Chính phủ xem xét để có những chính sách hoặc sửa đổi những chính sách hiện có theo hướng tạo thuận lợi hơn, khuyến khích hơn các TCPCPNN, người nước ngoài đến Việt Nam và cùng chia sẻ những khó khăn thách thức của chúng ta trong phát triển.
Cũng trong Chương trình Quốc gia, chúng ta cũng đặt mục tiêu rất lớn là thông qua hợp tác với các TCPCPNN để tăng cường hiểu biết quốc tế, giao lưu và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước trên thế giới; đây là một nội dung trong chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng.
- Trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, ông có thể chia sẻ một số định hướng, giải pháp của VUFO để có thể thúc đẩy hơn nữa công tác vận động, viện trợ PCPNN?
Khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, xu hướng chung là các nhà tài trợ quốc tế sẽ giảm ưu tiên. Bằng chứng rõ ràng là các nhà tài trợ ODA đã hoặc đang rút khỏi Việt Nam; các tổ chức tài chính quốc tế áp dụng các cơ chế tín dụng ít ưu đãi hơn hoặc không có ưu đãi.
Trong bối cảnh đó, nguồn lực cho hoạt động của các TCPCPNN có bị ảnh hưởng, bởi lẽ một phần nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN đến từ nguồn ODA. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, tác động của nguồn ODA đến viện trợ PCPNN tại Việt Nam ước tính khoảng 10%, còn lại nguồn lực cơ bản đến từ chính các TCPCP, từ công chúng, doanh nghiệp, các quỹ đầu tư tư nhân.
Khi các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức song phương và đa phương đã và đang rút khỏi Việt Nam sẽ để lại khoảng trống về nhu cầu chưa được đáp ứng tại Việt Nam. Thứ hai, tuy Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức. Ví dụ như hậu quả chiến tranh kéo dài, một số nhóm đặc biệt, người có hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số...
Song song với đó, sự chênh lệch vùng miền, đời sống nhân dân ở một số địa bàn còn rất khó khăn và còn những tác động mang tính phi truyền thống như biến đổi khí hậu hay vấn đề xuyên biên giới. Tất cả những khó khăn và thách thức ấy cho thấy vẫn có vị trí cho các TCPCPNN với tư cách là các đối tác trong phát triển tiếp tục cùng với Việt Nam để giải quyết khó khăn. Từ góc độ chuyên môn, theo chúng tôi thì sự quan tâm của các TCPCPNN vẫn tiếp tục.
Tuy nhiên, công tác vận động viện trợ của các tổ chức PCPNN chắc chắn phải thay đổi theo tình hình mới, gắn chặt chẽ với những ưu tiên của Việt Nam, gắn với những nhu cầu của các địa phương, cộng đồng và các ngành nhưng cũng đồng thời phải mang tính khả thi, phù hợp với định hướng của từng địa phương, từng ngành và rộng hơn là với cả quốc gia.
Chúng tôi cho rằng, ngoài việc huy động nguồn lực từ các TCPCP, chúng ta cần tăng cường hợp tác với họ để huy động những nguồn lực khác để có thể triển khai thông qua các TCPCP. Nếu chúng ta làm tốt thì trong những năm sắp tới, vẫn có thể tiếp tục tranh thủ được nguồn lực của các TCPCPNN để hỗ trợ cho những vùng miền, ngành, những tổ chức còn khó khăn trong những nội dung chúng ta ưu tiên.
Trân trọng cảm ơn ông!
Thuỳ Linh
Tin bài liên quan
Các tin bài khác
Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga tiếp xúc cử tri xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu
Bầu cử Quốc hội-HĐND: Tập trung cao độ, sẵn sàng cho Ngày hội lớn của toàn dân
Bầu cử Quốc hội và HĐND: Sự kiện chính trị quan trọng của đất nước
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 5, tỉnh Phú Thọ
Đọc nhiều
Đã chọn con đường dựng xây đất nước phồn vinh thì không được nản lòng trước khó khăn
Kiều bào về đất tổ tưởng niệm các Vua Hùng
Giao lưu văn hóa Việt - Nhật: Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai
Nhật Bản viện trợ 15 tỷ đồng cho trẻ em dân tộc thiểu số Tuyên Quang và Lai Châu
Bờ cõi biển đảo
Miền đất - Con người Cuộc sống vùng biên Nhịp sống biển đảo Lịch sử chủ quyền Giao lưu hữu nghị
Nhật ký khai thác điện tử: Bước tiến trong hiện đại hóa nghề cá tại Thành phố Hồ Chí Minh
Khi những trang sách mở cửa tri thức cho trẻ em vùng biên Mường Nhé
Cảnh sát biển Việt Nam lên đường tuần tra liên hợp với Cảnh sát biển Trung Quốc
Multimedia
[Infographic] Việt Nam và Trung Quốc ký kết 32 văn kiện hợp tác
Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI có 14 Bộ, 3 cơ quan ngang Bộ
[Infographic] Các mốc thời gian sau cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp
[Infographic] Bầu cử Quốc hội và HĐND: Cách tra cứu thông tin về người ứng cử trên VNeID
[Infographic] Thủ tướng chỉ đạo 9 nhiệm vụ trọng tâm ứng phó biến động toàn cầu
[Infographic] Đến năm 2030, phấn đấu thu nhập bình quân người dân nông thôn tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020
[Infographic] 4 mốc thời gian của 4 kỷ nguyên quan trọng trong 100 năm Đảng lãnh đạo
[Video] Cử tri cả nước nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp
[VIDEO] Tinh thần dân chủ của nhân dân Việt Nam trong bầu cử
Tổ chức Giao lưu Quốc tế Việt Nam Nhật Bản (FAVIJA): thúc đẩy hữu nghị, hợp tác đa phương
[Video] Vũ điệu chúc xuân sôi động của Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam
[Video] Đại sứ Lào tại Việt Nam tin tưởng Đại hội XIV sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho Việt Nam phát triển toàn diện
[Video] WVIV thúc đẩy nông nghiệp tái sinh, nâng cao sinh kế cộng đồng tại Thanh Hóa
[Video] Plan International và Tỉnh Đoàn Quảng Trị xây dựng lực lượng thanh niên hành động vì khí hậu
[Video] 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2025
Plan International Việt Nam hỗ trợ khẩn cấp hơn 1,8 tỷ đồng cho người dân Đà Nẵng sau bão
Vietnam Happy Fest 2025: Lan tỏa những giá trị hạnh phúc giữa lòng Hà Nội
[VIDEO] Tổ chức Cứu trợ Trẻ em tiếp sức trẻ em Bắc Ninh sớm quay về nhịp sống sau thiên tai
[Video] World Vision hỗ trợ hơn 1.100 người dân Quảng Ngãi tiếp cận nước sạch bền vững
[Video] Đồng tâm, dốc sức cứu trợ đồng bào vùng lũ
[Video] Ấn Độ tặng Giải thưởng Hòa bình Romesh Chandra cho bà Nguyễn Thị Bình




