Cuộc đời… “rất Việt Nam” trên đất Thái
| Tôi đã trở thành con dân nước Việt Tình cha đưa tôi về Việt Nam |
![]() |
| Thượng nghị sĩ Thái Lan gốc Việt Lae Dilokvidhyarat. (Ảnh: NVCC) |
Cha tôi là ông Đỗ Như Kỳ. Ông sang Thái Lan năm 1937, sau đó kết hôn với mẹ tôi, một người Thái. Tôi sinh năm 1947. Do hoàn cảnh lịch sử, cha mất liên lạc với gia đình ở Việt Nam.
Trong cuốn hộ chiếu được Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan cấp cho cha năm 1989, ở mục nơi sinh có một dòng bị gạch đi. Hai chữ “Ninh Bình” được viết lại bằng tay.
Đó là thông tin ít ỏi tôi có về quê hương của cha. Nơi ấy khi đó chỉ tồn tại trong những câu chuyện ông kể về cuộc sống trước ngày rời Việt Nam.
![]() |
| Cuốn hộ chiếu của ông Đỗ Như Kỳ, cha của Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat, được Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan cấp năm 1989. (Ảnh: NVCC) |
Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat lần giở cuốn hộ chiếu của cha, do Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan cấp năm 1989. (Video: NVCC)
![]() |
| Mảnh giấy Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat ghi lại địa chỉ quê cha tại Ninh Bình. (Ảnh: NVCC) |
Trong một chuyến công tác về Việt Nam năm 2010, tôi nhờ người bạn đưa về Ninh Bình. Ban đầu, tôi chỉ muốn tận mắt nhìn thấy quê cha, không nghĩ mình có thể tìm lại họ hàng sau nhiều thập kỷ mất liên lạc.
Khi biết tôi đã tìm thấy quê nhà, cha vui mừng khôn xiết. Dù tuổi đã cao, ông vẫn mong được trở về nơi mình sinh ra. Tôi cùng các em tìm lại giấy tờ, hoàn thành các thủ tục cần thiết, nhưng sức khỏe cha yếu dần khi mọi việc còn dang dở.
Tôi, các em và cha thống nhất: bằng mọi giá phải đưa ông trở về quê nhà. Nếu không thể thực hiện khi cha còn tại thế, chúng tôi sẽ đưa ông về sau khi cha nhắm mắt xuôi tay.
Điều ấy khiến cha an lòng. Ông nói rằng nếu không thể về bằng hình hài phàm trần, ông xin được trở về khi đã trút hơi thở cuối cùng.
Năm 2014, cha qua đời tại Thái Lan, ở tuổi 101. Hai tuần sau, tôi bắt đầu hành trình thực hiện tâm nguyện của ông. Một phần tro cốt của cha được gia đình lưu lại tại Thái Lan, phần còn lại tôi mang về an táng tại Ninh Bình.
Lúc bắt đầu hành trình ấy, tôi chỉ nghĩ mình đang đưa cha về quê hương. Mãi sau này tôi mới hiểu, hành trình ấy cũng giúp tôi nhận ra rõ hơn cội nguồn của chính mình.
Nếp nhà cha truyền lại
Tôi mang trong mình hai dòng máu Thái - Việt. Sinh ra và trưởng thành trên đất Thái, tôi hoàn toàn có thể sống như một người Thái. Nhưng cha không muốn như vậy. Ông để tôi sống cùng mình, còn các em sống với mẹ và gia đình bên ngoại. Cha muốn nuôi dạy tôi theo lối sống và phong tục Việt.
![]() |
| Phần mộ ông Đỗ Như Kỳ, cha của Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat, tại quê nhà Ninh Bình. (Ảnh: NVCC) |
Từ đó, tôi sống một cuộc đời hoàn toàn “Việt Nam” như cha. Ông rèn tôi từ nếp ăn, nếp ở đến cách ứng xử trong gia đình. Trước khi cầm đũa, tôi phải khoanh tay mời người lớn và những người xung quanh cùng ăn cơm. Trong nhà, cha yêu cầu tôi nói tiếng Việt. Nếu vô tình nói tiếng Thái, ông lập tức nhắc: “Phải nói tiếng Việt, không được nói tiếng Thái!”.
Tôi nói tiếng Việt trước khi nói thành thạo tiếng Thái. Sau này, khi tham gia các lớp học tiếng Việt bài bản, các thầy cô ngạc nhiên vì tôi có thể phát âm khá chuẩn những âm điệu vốn là trở ngại lớn đối với người Thái.
Cha thường hủ hỉ nói với tôi: “Con trai trưởng phải là người đại diện cho cha. Cha là người Việt thì con cũng phải giữ lấy gốc rễ Việt Nam”. Khi còn nhỏ, tôi tiếp nhận lời dạy ấy như một điều tự nhiên. Phải đến khi đặt chân đến quê cha, tôi mới hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa lời ông dặn.
Cha giữ gốc Việt bằng chính lựa chọn của mình. Theo lời ông kể, khi mới sang Thái Lan, nhờ thông thạo tiếng Pháp, ông được phía Thái Lan ngỏ ý mời hợp tác trong các hoạt động kháng Pháp. Đổi lại, cha sẽ được cấp quốc tịch Thái Lan, nhận một thúng gạo và 20 baht, tương đương một tháng lương thời bấy giờ.
Cha đã từ chối. Ông chấp nhận tiếp tục là một “ngoại kiều” để giữ cơ hội trở về quê cha đất tổ. Dù gia đình trải qua nhiều khó khăn trong những năm Chiến tranh Đông Dương, quyết định giữ quốc tịch Việt Nam của ông không thay đổi cho đến cuối đời.
Cha từng nói một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của ông là ngày được bước vào Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan và kính cẩn nghiêng mình trước tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người Việt tại Bangkok thời ấy sống khá phân tán. Anh em chúng tôi hầu như không có nhiều cơ hội tiếp xúc với cộng đồng. Tuy vậy, mỗi dịp Tết cổ truyền, cha lại tự tay chuẩn bị những món ăn Việt Nam. Món tôi nhớ nhất là chả giò, hay nem rán. Mỗi khi món ấy xuất hiện trên mâm cơm, chúng tôi lại nhớ lời cha: “Chúng ta là người Việt Nam”.
Cha thường kể cho tôi nghe về quê hương, xóm giềng, đồng ruộng và cuộc sống trước ngày rời Việt Nam. Mỗi khi rảnh sau giờ làm việc, ông lại tìm đến ngôi chùa Việt trong khu phố người Hoa ở Bangkok để gặp những người bạn đồng hương.
Khi chỉ có hai cha con, ông kể rằng tại đó từng có những cuộc gặp kín nhằm tìm cách ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Cha luôn dành cho Bác sự kính trọng sâu sắc và xem Người là biểu tượng của sự hy sinh vì độc lập dân tộc.
Tôi nhận ra nơi mình thuộc về
Lời hứa giữa cha và các con cuối cùng đã được thực hiện. Sau một cuộc đời xa quê, ông đã trở về mảnh đất mình luôn mong nhớ. Với tôi, ý thức về dòng máu Việt Nam đã thực sự thức tỉnh từ trước đó, khi lần đầu đặt chân đến quê cha và gặp lại họ hàng.
![]() |
| Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat dâng hương tại phần mộ người thân trong chuyến về thăm quê cha ở Ninh Bình năm 2014. (Ảnh: NVCC) |
Tôi vẫn nhớ lúc mọi người trong nhà đang theo dõi trận bóng rổ giữa đội tuyển Thái Lan và Việt Nam. Một người họ hàng lớn tuổi hơn tôi nhưng theo vai vế lại thuộc hàng cháu hỏi tôi ủng hộ đội nào. Tôi trả lời rằng mình ủng hộ cả hai, anh liền nói: “Không được, con trai trưởng phải giống cha. Cha là người Việt thì con cũng phải là người Việt, con phải ủng hộ đội Việt Nam!”.
Tôi mỉm cười nhưng trong lòng bỗng nghẹn lại. Đó chính là lời cha vẫn nói với tôi từ thời thơ bé. Nghe lại lời ấy ngay tại quê cha, tôi hiểu sâu sắc hơn điều ông đã dạy mình.
![]() |
| Thượng nghị sĩ Lae Dilokvidhyarat cùng họ hàng trong chuyến về thăm quê cha ở Ninh Bình năm 2014. (Ảnh: NVCC) |
Sau chuyến đi Ninh Bình, những hình ảnh trước đây chỉ hiện lên mờ nhạt qua lời cha kể bên điếu thuốc - làng quê ra sao, người dân làm ruộng thế nào, những đứa trẻ đi bẫy cò ra sao - bỗng trở nên rõ nét. Bức tranh về cuộc đời cha, xóm giềng và quê hương luôn ở trong ký ức tôi, nhưng chỉ thực sự bừng sáng khi tôi được tận mắt nhìn thấy quê cha.
Bước đi trên mảnh đất ấy, tôi cảm nhận mình là một phần của nhịp sống nơi đây, bởi tôi là con của người đã sinh ra và trưởng thành từ chính vùng đất này. Kể từ đó, tôi luôn cố gắng trở về dự giỗ tổ. Những chuyến đi bị gián đoạn bởi đại dịch COVID-19. Sau này, dù không về đúng dịp giỗ, tôi vẫn tranh thủ thăm phần mộ của cha.
| Tôi tin rằng những người Việt phải rời xa xứ sở thường giữ ký ức về quê hương trong gia đình và truyền lại cho con cháu. Những câu chuyện ấy gieo vào thế hệ sau mong muốn một ngày được trở về cội nguồn của cha ông. Từ câu chuyện gia đình, tôi hiểu rõ hơn cách cộng đồng người Việt tại Thái Lan giữ mối liên hệ với quê hương. Lần đầu đến các tỉnh ven sông Mekong ở Đông Bắc Thái Lan, tôi nhìn thấy những bia mộ khắc chữ Quốc ngữ, thay vì chữ Hán như tại các nghĩa trang người Hoa. Khoảnh khắc ấy khiến tôi xúc động. Tôi nhận ra cha không phải là người Việt duy nhất trên đất Thái vẫn gìn giữ gốc rễ và hướng về quê hương. Theo quan sát của tôi, bản sắc Việt Nam tại Thái Lan được duy trì từ những điều rất đời thường. Có những địa bàn người Việt sinh sống được gọi là Ban Yuan, nghĩa là làng Việt. Trong nhiều gia đình, cách xưng hô bằng tiếng Việt như ông, bà, thím, anh, chị, em vẫn được sử dụng và truyền qua các thế hệ. Theo những gì tôi biết, có những cộng đồng người Việt đã định cư trên đất Thái không dưới 300 năm. Người dân Thái Lan biết nguồn gốc của họ và ghi nhận những đóng góp của cộng đồng này đối với xã hội. Thái Lan là một xã hội đa văn hóa. Các cộng đồng cùng sinh sống, dung hòa với nhau và vẫn giữ phong tục riêng. Ngay cả trong những giai đoạn quan hệ cấp nhà nước gặp trở ngại do bối cảnh địa chính trị quốc tế, công chúng Thái Lan nói chung chưa bao giờ xem người gốc Việt là đối trọng hay người xa lạ. Quan hệ gắn kết, hòa hảo giữa cộng đồng người Việt và người dân Thái Lan chính là nền tảng cốt lõi vững chắc, nâng đỡ cho cây cầu hữu nghị cấp nhà nước giữa hai quốc gia ngày càng phát triển bền vững trong tương lai. Nhìn lại hành trình của cha và những điều ông để lại, tôi hiểu rằng việc giữ nguồn cội bắt đầu từ mỗi gia đình: từ tiếng nói, nếp ăn, cách xưng hô, sự kính trọng cha mẹ và những câu chuyện được kể lại cho con cháu. Với tôi, làm một điều gì đó cho Việt Nam trước hết là làm sao để những giá trị Việt tiếp tục sống trong mỗi gia đình. |
Tin bài khác
Việt Nam đang hướng tới tăng trưởng chất lượng và tính bền vững









