eMAGAZINE

"Thư tình" gửi Việt Nam

Thư tình gửi Việt Nam

Thân gửi Việt Nam,

Tháng 10 năm 1992, tôi nằm dưới lớp màn chống muỗi trong một căn phòng khách sạn đơn sơ ở khu phố cổ Hà Nội, cố gắng hiểu những âm thanh vọng vào từ bên ngoài. Thỉnh thoảng, tiếng còi xe máy như đấu với tiếng chuông xe đạp. Tiếng nồi niêu xoong chảo lanh canh, hòa cùng những giọng nói tiếng Việt lúc trầm lúc bổng - khi thì chỉ là những câu chuyện trò, nhưng phần nhiều là những tiếng gọi sang sảng, như thể phải để cả khu phố cùng nghe thấy. Trên đầu tôi, chiếc quạt trần chao đảo quay chầm chậm, đều đều phát ra tiếng “vù… vù… vù…”, khiến tôi dần chìm vào một trạng thái gần như thôi miên.

Mồ hôi bết lấy người tôi như một lớp da thứ hai.

Tôi mở mắt. Qua lớp màn, tôi lờ mờ nhìn thấy chiếc quạt và phía sau nó là một ngày trọn vẹn đầu tiên đầy háo hức đang chờ đợi tôi ở Hà Nội. Bên ngoài, thành phố đang thức giấc với một nguồn năng lượng lan tỏa đến mức không thể cưỡng lại. Đây là một thành phố đang bước ra khỏi những năm tháng biệt lập, bắt đầu mở cửa với thế giới trong công cuộc đổi mới. Tôi thấy mình thật may mắn và háo hức khi được có mặt ở đây.

Tôi bước xuống giường, đi qua nền gạch đã ngả màu rồi mở những cánh cửa chớp gỗ sơn xanh.

Thư tình gửi Việt Nam

Những quầy hàng rong tại ngõ chợ Đồng Xuân, 1992. (Ảnh: NVCC)

Ánh nắng tràn qua cửa ban công. Phía đối diện là những dãy nhà cũ kỹ với những mảng tường vàng, hồng đã phai màu. Những cánh cửa chớp xanh ngọc xiêu vẹo và những chiếc ăng-ten truyền hình nghiêng ngả nổi bật giữa mạng lưới dây điện chằng chịt giăng trên đầu. Trong vài giây tuyệt đẹp, buổi sáng dường như hoàn hảo. Bầu trời xanh trong không một gợn mây. Gió vẫn còn phảng phất chút se lạnh. Hà Nội vừa cổ kính, vừa như đang mong ngóng điều gì đó, tựa một thành phố đã kiên nhẫn chờ đợi thế giới tìm đến mình.

Tôi bước ra ban công.

Bên dưới, trong con ngõ, những người đang ngồi bên các hàng quán chật kín đường bỗng đồng loạt ồ lên. Những cái đầu nhô ra khỏi những tấm bạt cũ kỹ. Những người đi xe đạp dừng lại. Các bà cụ đang gánh những đôi quang gánh nặng trĩu trên vai cũng đứng khựng giữa đường. Những đôi đũa đang gắp thức ăn bỗng dừng lại bên những bát phở nghi ngút khói.

Rồi những ngón tay bắt đầu chỉ trỏ, tiếng cười vang lên, cùng những lời xôn xao đầy phấn khích.

Phải mất một lúc, tôi mới kinh hoàng nhận ra sự thật.

Tôi đang khỏa thân.

Cơ thể trắng nhợt của một người châu Âu như tôi đang phơi ra dưới ánh nắng ấm áp buổi sớm, trở thành màn giải trí cho gần như tất cả mọi người trong con ngõ. Hoảng hốt, tôi vội lùi vào phòng, ngồi phịch xuống mép giường, ôm đầu trong hai tay và chờ cho lòng tự trọng của mình trở lại.

Lúc ấy tôi mới nhận ra: Hà Nội đã hoàn toàn đón nhận tôi - và tiện thể lột tôi sạch sẽ.

Đó quả là một khởi đầu đặc biệt của tôi với Hà Nội.

Thư tình gửi Việt Nam

Andy Soloman đến Việt Nam lần đầu vào năm 1992, với thị thực dành cho nhà báo nước ngoài. (Ảnh: NVCC)

Tôi đến Việt Nam với tư cách một phóng viên ảnh tự do, mang theo hai chiếc máy ảnh Nikon, 150 cuộn phim 35mm quý giá và tấm thị thực dành cho nhà báo nước ngoài. Tôi thực sự không biết điều gì đang chờ đợi mình. Việt Nam khi ấy mới chỉ bắt đầu bước ra thế giới. Đồng minh cũ của Việt Nam gặp khủng hoảng và tan rã; nền kinh tế suy kiệt, cơ sở hạ tầng xuống cấp, còn du lịch tự túc gần như chưa tồn tại. Thế nhưng, kinh tế tư nhân đang bắt đầu khởi sắc, và ở khắp nơi đều có thể cảm nhận một đất nước đang chuyển mình.

Ngày hôm trước, hành trình từ sân bay Nội Bài vào Hà Nội của tôi vừa hồi hộp, vừa đáng sợ, lại vừa có cảm giác như một giấc mơ. Người lái xe gần như lúc nào cũng đặt một ngón tay lên còi, liên tục đánh lái tránh xe đạp, xe bò, những chiếc xe buýt nhỏ lắc lư, xe tải phun khói mù mịt và những tốp người đi bộ dàn hàng ba. Gà, vịt bị treo ngược trên tay lái xe đạp. Phụ nữ gánh những chiếc giỏ khổng lồ trên đôi quang gánh bằng tre. Con đường dường như thuộc về tất cả mọi người, nhưng cũng chẳng thực sự thuộc về ai.

Vậy mà bằng cách nào đó, sự lộn xộn ấy vẫn vận hành.

Khi vào đến Hà Nội, chúng tôi đi qua sông Hồng. Cầu Long Biên hiện ra gần đó, một di tích bằng thép của một thời đại khác. Con đường đổ xuống rồi hòa vào một dòng xe cộ mà theo mọi quy tắc giao thông thông thường, dường như không thể nào đi qua nổi. Thế nhưng, từng dòng xe đạp, xe máy và người đi bộ vẫn luồn qua nhau, nhịp nhàng như thể tất cả đều có chung một bản năng.

Tôi đến đây để chụp ảnh một đất nước đang đổi thay, nhưng khi ấy tôi chưa thể hiểu rằng Việt Nam rồi cũng sẽ thay đổi chính tôi.

Trong ba tháng rưỡi tiếp theo, tôi đi qua các vùng đồng bằng và miền núi, đến các thành phố, làng quê, nhà máy, khu vực biên giới, trường học và bệnh viện. Ở đâu tôi cũng được đón tiếp bằng một sự hiếu khách đáng kinh ngạc. Tôi đến với tư cách một người xa lạ, nhưng bằng cách nào đó, lúc rời đi, tôi luôn đã trở thành một người bạn.

Thư tình gửi Việt Nam

Nhiếp ảnh gia Andy Soloman (hàng đầu, thứ ba từ phải qua) trong đám cưới của người Thái Đen, 1992. (Ảnh: NVCC)

Ở nhiều nơi, sự xuất hiện của một người nước ngoài là điều hết sức mới lạ. Bọn trẻ rón rén đến gần, nhéo những sợi lông trên cánh tay tôi rồi chạy biến, trong tiếng cười ré lên của cả trẻ con lẫn người lớn. Tại một ngôi làng hẻo lánh ở Sơn La, tôi được mời dự một đám cưới của người Thái Đen và được đối đãi như một người con trong gia đình.

Mọi người thường gọi tôi là “Liên Xô”, có lẽ vì cho rằng tôi là người Nga. Ngay cả ở khu vực trung tâm Hà Nội, tôi vẫn là một hình ảnh lạ lẫm. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng khác biệt ngôn ngữ không thể ngăn cản tình bạn. Tôi được mời vào những ngôi nhà giản dị, được mời trà và thuốc lá, còn mọi người thì mỉm cười và cứ thế ngắm nhìn tôi.

Thư tình gửi Việt Nam

Những người lái xích lô trên phố Nguyễn Quang Bích, tháng 11/1992. (Ảnh: NVCC)

Trên phố Nguyễn Quang Bích, một nhóm người đạp xích lô đang ăn trưa tại một hàng quán ven đường. Họ ngồi xổm trên những chiếc ghế gỗ dài thấp đến mức đặc biệt, rồi mời tôi ngồi cùng. Chúng tôi ăn uống với nhau, nhưng dù họ rất nghèo, họ nhất quyết không nhận tiền của tôi.

Điều ấy lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác - và cho đến tận hôm nay vẫn vậy. Tình bạn, lòng hiếu khách và sự hào phóng luôn được đặt lên trước: một nụ cười thay cho cái cau mày, một cái ôm và một tràng cười. Thật tuyệt vời biết bao.

Càng đi nhiều, tôi càng hiểu rằng những bức ảnh của mình sẽ không bao giờ có thể kể hết về Việt Nam. Tôi chụp những con phố, những khu chợ, những tòa nhà cũ, những người lao động và những gương mặt hướng về ống kính của tôi với sự tò mò, thích thú, dè chừng hoặc thờ ơ. Nhưng những khoảnh khắc còn in đậm nhất trong tôi lại thường là những điều tôi không thể chụp lại: tiếng cười, lòng tử tế của những người xa lạ và phẩm giá lặng lẽ của những con người luôn tự tìm cách xoay xở giữa một tương lai đầy bất định.

Hùng, người lái xích lô tôi gặp ngay trong ngày đầu tiên, nhanh chóng coi tôi là một nguồn thu nhập riêng của mình và rồi trở thành một phần trong “bài học nhập môn” về Việt Nam của tôi. Từng là một cựu quân nhân, anh nghèo và bộ quần áo màu xanh ô liu đã sẫm màu vì mồ hôi, chỗ vá chỗ lành. Anh xuất hiện ở khắp nơi - trước cửa khách sạn, bên dưới ban công và ngoài đường - lúc nào cũng nở nụ cười tươi và vẫy tay với tôi như thể chúng tôi đã là bạn cũ từ lâu.

Ban đầu, tôi cố tránh anh. Nhưng Hà Nội khi ấy quá nhỏ, hoặc Hùng quá quyết tâm. Cuối cùng, tôi đành chịu thua.

Anh tinh quái, dai dẳng và khiến người ta không thể không quý mến.

Thư tình gửi Việt Nam

Hơn ba thập kỷ đã trôi qua, nhưng tôi vẫn mang theo buổi sáng đầu tiên ở Hà Nội trong ký ức. Tôi nhớ tiếng ồn, cái nóng, những cánh cửa chớp bong tróc, mạng dây điện chằng chịt và tiếng cười vọng lên từ bên dưới. Tôi nhớ mình đã đến đây với sự tự tin của một người tin rằng mình sẽ là người quan sát, để rồi nhận ra rằng chính mình mới là người đang bị quan sát.

Kể từ đó, qua hàng chục nghìn bức ảnh tôi đã chụp, bạn cho tôi một cách nhìn về thế giới. Bạn dạy tôi nhìn xa hơn khuôn hình, cảnh giác với những câu chuyện quá dễ dàng và hiểu rằng một bức ảnh không phải là thứ ta có thể sở hữu. Đó là một khoảnh khắc được người khác trao gửi cho mình.

Bạn cũng dạy tôi rằng lịch sử không chỉ nằm trong những di tích hay bảo tàng. Lịch sử sống trong những gia đình, những con phố và trong những lựa chọn của con người về điều gì cần được gìn giữ, điều gì nên lãng quên và điều gì cần được trao lại cho thế hệ sau. Lịch sử hiện diện trong những điều cũ và mới cùng xuất hiện trong một khuôn hình: những biệt thự Pháp và những cây cầu thời Liên Xô, xe đạp và xe máy, những khách sạn cũ kỹ và những doanh nghiệp đầy tham vọng, những bữa cơm truyền thống và những cơ hội còn chưa biết trước.

Việt Nam, bạn không phải là một bức ảnh tĩnh.

Bạn là sự chuyển động, là tiếng ồn, những nghịch lý và những bất ngờ. Bạn là chiếc quạt quay trên đầu một chiếc màn chống muỗi, là tiếng chuông xích lô giữa dòng xe cộ, là cốc bia được chia sẻ với một người xa lạ - và có lẽ cả bát tiết canh gà trong một đám cưới. Bạn là một đất nước chưa bao giờ cho phép tôi chỉ đứng ngoài nhìn ngắm. Bạn luôn muốn tôi bước vào và trở thành một phần của câu chuyện.

Thư tình gửi Việt Nam

Hai mẹ con người Dao Đỏ tại tỉnh Cao Bằng trong bức ảnh Andy Solomon chụp năm 1992 (trái) và lần gặp lại hơn 30 năm sau, tháng 12/2025 (phải). (Ảnh: NVCC)

Mỗi khi xem lại những bức ảnh cũ, tôi nhìn thấy nhiều hơn những gì hiện diện trong khuôn hình. Phía sau một giai đoạn đã biến mất mà chúng ghi lại, tôi nhìn thấy chính mình của ngày ấy: bồn chồn, háo hức, đói bụng, đôi khi lạc đường và lúc nào cũng cố gắng để hiểu. Tôi nhìn thấy những con người đã cho phép tôi bước vào cuộc sống của họ, thường bằng một sự rộng lòng còn lớn hơn những gì tôi xứng đáng nhận được. Tôi nhìn thấy khởi đầu của một mối duyên kéo dài lâu hơn rất nhiều so với những gì tôi từng có thể hình dung.

Những năm gần đây, tôi bắt đầu tự hỏi những người từng đối đãi tốt với mình trong những ngày đầu ấy giờ đang ở đâu. Năm 2022, tôi lên đường tìm lại một số người trong số họ. Suốt bốn năm qua, tôi đã đi qua Tây Nguyên, các tỉnh miền Bắc, đồng bằng sông Hồng và Quy Nhơn, tìm gặp những người tôi từng quen từ rất nhiều năm trước.

Họ vẫn ở đó.

Một lần nữa, sau hơn ba thập kỷ, họ mở cửa đón tôi trở lại cuộc sống của mình, khiến tôi một lần nữa phải cúi đầu trước lòng hiếu khách của họ và lây niềm vui từ những tiếng cười của họ.

Thư tình gửi Việt Nam

Ông Nông Huy Đáo trong bức ảnh Andy Solomon chụp tháng 11/1992 (trái) và trong chuyến trở lại mỏ thiếc Tĩnh Túc tháng 12/2025. (Ảnh: NVCC)

Cuối năm ngoái, tôi đến Cao Bằng để tìm ông Nông Huy Đáo, một kỹ sư khai khoáng từng được đào tạo tại Liên Xô và từng giữ chức giám đốc mỏ thiếc Tĩnh Túc. Năm 1992, mỏ đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu vốn đầu tư và trữ lượng thiếc cũng dần cạn kiệt. Thế nhưng, ông Đáo vẫn đón tiếp tôi, và chúng tôi đã có một bữa ăn đáng nhớ, nơi những ly rượu được nâng lên cùng lời chúc:

Tất cả chúng ta đều là thợ mỏ!

Năm 2025, ông Đáo đã ngoài 70 tuổi, nhưng chúng tôi cùng nhau trở lại khu mỏ. Mỏ vẫn hoạt động, dù quy mô đã nhỏ hơn rất nhiều. Một lần nữa, ban lãnh đạo mỏ mời chúng tôi dùng bữa. Tôi và ông Đáo ôm nhau, rồi cùng nâng ly:

Tất cả chúng ta đều là thợ mỏ!

Biết bao điều đã thay đổi, nhưng theo rất nhiều cách, dường như chẳng có gì thay đổi.

Tinh thần Việt Nam bất khuất, bền bỉ và luôn tràn đầy lạc quan ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Cảm ơn Việt Nam vì đã đón tôi bằng những tiếng cười.

Và cảm ơn bạn đã dạy tôi: Đôi khi, cách tốt nhất để bắt đầu nhìn một đất nước là thừa nhận rằng, ngay từ đầu, chính đất nước ấy đã nhìn thấy bạn trước.

Thân ái,

Andy Soloman.

Thư tình gửi Việt Nam

Andy Soloman

Biên dịch & thiết kế: Thu Phượng