Thiếu tướng Vũ Văn Tấn: Cần xác lập đầy đủ địa vị pháp lý của VNeID trong hệ sinh thái số quốc gia
| VNeID tích hợp thêm tính năng tra cứu thân nhân liệt sĩ Kế hoạch triển khai kết nối ứng dụng VNeID với hệ thống định danh điện tử các nước ASEAN |
-Thưa ông, đã hết quý 3/2026, xin ông cho biết những nội dung trọng tâm của Cục cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội (C06) sẽ triển khai trong thời gian còn lại của năm?
Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai trong những tháng cuối năm như sau:
Một là, về pháp lý: Rà soát toàn bộ các văn bản hướng dẫn thủ tục cấp căn cước công dân, đăng ký cư trú, cấp giấy phép ngành nghề có điều kiện, quản lý con dấu. Văn bản nào chồng chéo phải hợp nhất. Quy định nào lỗi thời phải bãi bỏ. Thủ tục nào phức tạp phải đơn giản hóa; Nghiên cứu sửa đổi Luật Cư trú; tham mưu với lãnh đạo Bộ báo cáo Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật định danh và xác thực điện tử vào tháng 10/2026; Xây dựng quy trình quản lý hậu kiểm: Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Đó không phải kiểm tra kỹ trước khi cho phép rồi buông lỏng sau đó - mà là cho phép nhanh, thuận lợi, nhưng hậu kiểm chặt chẽ, xử lý nghiêm khi phát hiện vi phạm. Xây dựng quy trình hậu kiểm cụ thể cho từng lĩnh vực - cư trú, căn cước, ngành nghề có điều kiện, vũ khí vật liệu nổ.
Hai là, về cải cách thủ tục hành chính, phục vụ nhân dân và xây dựng hệ thống đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp: Đẩy mạnh việc đưa các thủ tục hành chính lên môi trường điện tử qua VNeID. Trong những tháng cuối năm 2026, phấn đấu đưa 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Cục và các PC06 lên trực tuyến. Rút ngắn thời gian giải quyết, giảm số giấy tờ người dân phải nộp. Tăng cường liên thông dữ liệu với các bộ ngành; Về xây dựng hệ thống đánh giá mức độ hài lòng: Sau mỗi lần công dân làm thủ tục, phải có kênh cho công dân đánh giá - qua VNeID, qua tin nhắn, qua QR code. Kết quả đánh giá phải công khai, trở thành tiêu chí đánh giá cán bộ.
Ba là, đảm bảo dữ liệu dân cư “đúng, đủ, sạch, sống”; triển khai chỉ thị nâng cao hiệu quả quản lý cư trú trong tình hình mới; hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chiến lược mà Chính phủ, Bộ Công an giao Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội thực hiện, như: Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; cơ sở dữ liệu Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Bốn là, tập trung triển khai các giải pháp phòng ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Đặc biệt là quản lý đối tượng và giải quyết mâu thuẫn nội bộ Nhân dân; phòng ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng
Năm là, đẩy mạnh Đề án 06 giai đoạn 2026-2030 và triển khai Quyết định 940 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển VNeID giai đoạn 2026-2045
Sáu là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội về tư duy “Cục tinh - Tỉnh toàn diện - Xã bám cơ sở”, trong đó nhấn mạnh Vai trò của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội: Là cơ quan tham mưu chiến lược cho Bộ Công an. Ban hành các chủ trương, chính sách, quy trình nghiệp vụ. Xây dựng và vận hành hạ tầng dữ liệu quốc gia. Chỉ đạo, hướng dẫn PC06 toàn quốc. Cục không làm thay công việc chuyên môn cụ thể của tỉnh.
Vai trò của Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội sẽ là cơ quan triển khai đầy đủ chức năng nhiệm vụ của Cục xuống địa bàn cấp tỉnh. Trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về cư trú, căn cước, ngành nghề có điều kiện, vũ khí vật liệu nổ trên địa bàn tỉnh. Cán bộ chuyên trách phải xuống địa bàn kiểm tra, hướng dẫn Cảnh sát khu vực xã, phường. Vai trò của Xã bám cơ sở: Lực lượng Cảnh sát khu vực tiếp xúc trực tiếp với Nhân dân, nắm chắc từng hộ dân, từng đối tượng. Tiếp nhận và xử lý các thủ tục hành chính đầu tiên và là mắt xích quan trọng nhất trong cả hệ thống.
![]() |
| Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, Cục trưởng Cục cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội. |
-Đề án 06 giai đoạn 2026-2030 xác định bám sát chiến lược phát triển số hoá chính quyền. Thưa ông, hiện nay đã sơ kết 1 năm chính quyền địa phương 2 cấp, nhìn từ bài học kinh nghiệm đã qua ông thấy C06 cần tập trung vào những vấn đề nào trong thời gian tới?
Qua một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có thể thấy bộ máy cơ bản đã đi vào ổn định, thông suốt, nhưng cũng bộc lộ một số vấn đề rất rõ: năng lực thực thi ở cơ sở chưa đồng đều; phân cấp, phân quyền có nơi chưa đi cùng nguồn lực và công cụ thực hiện; hạ tầng số, dữ liệu, phần mềm còn thiếu đồng bộ; cán bộ cấp xã chịu áp lực công việc lớn và khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân giữa các địa bàn còn chênh lệch. Đây cũng là những vấn đề được chỉ ra qua sơ kết một năm vận hành mô hình mới.
Từ thực tiễn đó và bám sát Quyết định 826/QĐ-TTg, theo tôi, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cần tập trung vào 5 vấn đề lớn.
Một là, lấy dữ liệu làm nền tảng cho vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, tiếp tục làm sạch, làm giàu, kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành, bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung.
Hai là, tái cấu trúc thực chất thủ tục hành chính trên nền dữ liệu, thực hiện nguyên tắc người dân không phải khai lại, nộp lại thông tin Nhà nước đã có; mở rộng dịch vụ công phi địa giới, để thay đổi địa giới hành chính không làm tăng khoảng cách giữa người dân với chính quyền. Quyết định 826 đặt mục tiêu 100% thủ tục hành chính, dịch vụ công được nộp hồ sơ phi địa giới.
Ba là, nâng VNeID từ công cụ định danh thành nền tảng tương tác số chủ yếu giữa người dân với chính quyền, tích hợp thông báo, kết quả giải quyết thủ tục, giấy tờ số, thanh toán và các dịch vụ thiết yếu; đồng thời nghiên cứu các “Trạm công dân số” để hỗ trợ người cao tuổi, người yếu thế, người dân vùng khó khăn.
Bốn là, tăng cường các công cụ số hỗ trợ trực tiếp cấp xã, nhất là AI, trợ lý ảo, bản đồ số, dữ liệu phân tích phục vụ chỉ đạo, điều hành, qua đó giảm áp lực cho cán bộ và nâng cao năng lực quản trị ở cơ sở.
Năm là, phải coi an ninh, an toàn dữ liệu là điều kiện tiên quyết. Càng kết nối, chia sẻ dữ liệu sâu rộng thì càng phải kiểm soát chặt việc khai thác, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an ninh mạng và phòng ngừa việc lợi dụng chuyển đổi số để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Mục tiêu của Cục trong giai đoạn tới không chỉ là “số hóa” hoạt động của chính quyền, mà phải góp phần chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị bằng dữ liệu, để chính quyền 2 cấp thực sự gần dân hơn, xử lý công việc nhanh hơn và phục vụ người dân tốt hơn.
-Là một trong những cơ quan trụ cột của việc thực thi Đề án 06, thưa ông, về chính sách hiện tại, ông thấy cần bổ sung thêm những nội dung nào để có thể nhanh chóng thể chế hoá các Nghị quyết về lĩnh vực này của Trung ương?
Theo tôi, thời gian qua chúng ta đã hình thành được một hành lang pháp lý rất quan trọng như Luật căn cước, Luật dữ liệu; Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đồng thời hiện nay, Bộ Công an đang tham mưu với Chính phủ đề xuất Quốc hội thông qua Luật định danh và xác thực điện tử vào tháng 10/2026. Tuy nhiên, để nhanh chóng thể chế hóa các chủ trương lớn của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời triển khai hiệu quả Đề án 06 giai đoạn 2026–2030, chúng ta cần tiếp tục tập trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất, phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về dữ liệu, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương trong việc tạo lập, cập nhật, làm sạch, kết nối và chia sẻ dữ liệu. Cần chuyển từ tư duy “dữ liệu của bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó quản lý” sang tư duy dữ liệu là tài nguyên quốc gia, được quản trị thống nhất và chia sẻ theo thẩm quyền để phục vụ người dân, doanh nghiệp và quản trị quốc gia. Luật Dữ liệu đã xác định Bộ Công an là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước về dữ liệu; đây là cơ sở rất quan trọng để tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều phối dữ liệu quốc gia.
Thứ hai, cần thể chế hóa mạnh mẽ quan điểm chỉ đạo của Đề án 06, đó là “người dân chỉ phải cung cấp thông tin, giấy tờ một lần cho cơ quan nhà nước khi giải quyết thủ tục hành chính”. Khi thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành thì cơ quan nhà nước không được yêu cầu người dân cung cấp lại. Trên cơ sở đó phải rà soát, sửa đổi đồng bộ các quy định chuyên ngành còn yêu cầu bản giấy, bản sao, xác nhận thủ công; tiến tới cung cấp dịch vụ công chủ động, tự động, phi địa giới hành chính.
Thứ ba, cần xác lập đầy đủ hơn địa vị pháp lý của VNeID trong hệ sinh thái số quốc gia, phát triển VNeID từ một ứng dụng định danh điện tử thành nền tảng tương tác số tin cậy giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp. Những giấy tờ, dữ liệu đã được xác thực và tích hợp trên VNeID phải được sử dụng thống nhất; từng bước mở rộng các dịch vụ thông báo, thanh toán, ký số, ủy quyền điện tử, hồ sơ số và tiếp nhận kết quả giải quyết thủ tục trên một nền tảng.
![]() |
| Cán bộ công an hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính trên VNeID. |
Thứ tư, phải có cơ chế pháp lý cho những mô hình mới. Chuyển đổi số phát triển rất nhanh, trong khi quy trình xây dựng chính sách thường có độ trễ. Vì vậy, đối với AI, sinh trắc học, phân tích dữ liệu lớn, dịch vụ công chủ động và các phương thức xác thực mới, cần có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – sandbox, vừa tạo không gian đổi mới sáng tạo, vừa quản trị được rủi ro. Đây cũng chính là tinh thần Nghị quyết 57: thể chế phải đi trước một bước và phải có cách tiếp cận mở đối với những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn.
Thứ năm, chuyển đổi số càng mạnh thì bảo vệ dữ liệu càng phải chặt chẽ. Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân quyền, kiểm soát khai thác, truy vết trách nhiệm; bảo vệ dữ liệu cá nhân ngay từ khâu thiết kế hệ thống; đồng thời có chế tài đủ mạnh đối với việc khai thác, chia sẻ hoặc sử dụng dữ liệu sai mục đích. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tạo nền tảng pháp lý quan trọng để thực hiện yêu cầu này.
Tôi cho rằng, điểm then chốt trong giai đoạn tới là phải biến các chủ trương lớn của Trung ương thành những quy định rất cụ thể: dữ liệu nào phải chia sẻ, ai chịu trách nhiệm cập nhật, được khai thác đến đâu, giá trị pháp lý của dữ liệu số như thế nào và người dân được hưởng lợi gì. Khi giải quyết được những vấn đề này, Đề án 06 sẽ chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang giai đoạn dùng dữ liệu để tái cấu trúc phương thức quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
-Trân trọng cảm ơn ông!
Tin bài khác
Tăng cường các hoạt động kết nối những người bạn Hungary yêu mến Việt Nam
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV






