Bộ Tài chính đã triển khai công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thế nào, hiệu quả thực chất đến đâu, có gì vướng mắc trong quá trình thực hiện mà vì cơ chế nên không dễ tháo gỡ, chia sẻ..? Để trả lời những câu hỏi này, tạp chí Thời Đại đã có cuộc trao đổi với ông Hồ Đức Phớc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Tài chính về những việc cơ quan này đã làm được cũng như những dự định trong thời gian tới đối với lĩnh vực này.

-Thưa ông nói về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong buổi làm việc mới đây với Đoàn giám sát của Quốc hội, Bộ Tài chính đã công bố nhiều con số rất ấn tượng về những việc đã làm được, trong đó nổi bật là số lượng các văn bản đã ban hành để điều chỉnh nội dung này, xin ông cho biết những nét khái quát về kết quả của khía cạnh này?

-Trên cơ sở chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, Chiến lược tài chính đến năm 2020 và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, với chức năng là một bộ đa ngành, đa lĩnh vực, có phạm vi quản lý rất rộng, từ năm 2016 đến hết tháng 12/2021, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền 1202 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó đã trình Chính phủ để trình Quốc hội thông qua 06 Luật và 27 Nghị quyết; trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua 14 Nghị quyết về các cơ chế, chính sách tài chính; trình Chính phủ ban hành 190 Nghị định; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 50 Quyết định và ban hành theo thẩm quyền 915 Thông tư.

Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiết kiệm, chống lãng phí
Là người đứng đầu ngành tài chính, ông Hồ Đức Phớc luôn coi TK, CLP là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Bộ.

Trong số này có nhiều văn bản ban hành đã hướng tới việc tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và từng bước cơ cấu lại ngân sách Nhà nước…

Điển hình như hệ thống pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quản lý thuế liên tục được hoàn thiện và cập nhật theo tình hình của đất nước trong từng giai đoạn, vừa bảo đảm yêu cầu về hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, vừa đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế theo hướng mở rộng các cơ sở thuế, bao quát các nguồn thu ngân sách Nhà nước, đổi mới và hiện đại hóa trong quản lý thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước,… (như Luật Quản lý thuế năm 2019; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016; Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế,…). Riêng trong năm 2021, Bộ tham mưu trình Chính phủ ban hành 29 Nghị định, 126 Thông tư.

Thời gian tới, Bộ tiếp tục trình Chính phủ, Quốc hội ban hành 13 Luật, nhiều Nghị định liên quan tới một số lĩnh vực như quản lý tài sản công, nợ công, chứng khoán,… thể chế pháp luật cũng tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.

Bộ Tài chính đã nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Quản lý nợ công năm 2017; nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Chứng khoán (sửa đổi) năm 2019, Luật Kinh doanh Bảo hiểm (sửa đổi) năm 2022... đã góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý nợ, chứng khoán, tiếp cận các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần triển khai hiệu quả các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trong thời gian qua, mặc dù số lượng văn bản mà Bộ Tài chính được giao chủ trì soạn thảo thường rất lớn, nhiều nội dung phức tạp nhưng Bộ Tài chính luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc Chương trình xây dựng pháp luật.

-Tại buổi làm việc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ có nói tiết kiệm và chống lãng phí không đơn giản là cắt xén chi tiêu mà phải tháo gỡ khó khăn, kiến tạo thể chế… Nhìn từ góc độ này, thưa ông, Bộ Tài chính đã triển khai xây dựng hệ thống quy định xoay quanh nội dung này như thế nào và đạt được những thành tựu gì?

-Tại buổi làm việc của Đoàn giám sát của Quốc hội với Bộ Tài chính về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) sáng ngày 23/8, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã nói: “Tiết kiệm, chống lãng phí không phải đơn thuần như “cây kéo” để cắt xén chi tiêu, mà một khía cạnh khác rất quan trọng là phải kịp thời tháo gỡ khó khăn, kiến tạo thể chế, kiến tạo sự phát triển, tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn.

Trong thời gian vừa qua, cùng với việc chỉ đạo sát sao, quyết liệt, quyết tâm cao trong công tác THTK, CLP, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành chú trọng xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo đột phá phát triển, huy động và giải phóng mọi nguồn lực, nỗ lực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, vừa thúc đầy phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn và trung hạn, vừa tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững trong dài hạn.

Với vai trò là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực NSNN, tài chính công, tài sản công, nợ công,... Bộ Tài chính không những đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về THTK, CLP như: Luật THTK, CLP năm 2013; Nghị định số 84/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật THTK, CLP; Thông tư số 188/2014/TT-BTC hướng dẫn pháp luật về THTK, CLP; Thông tư số 129/2017/TT-BTC quy định tiêu chí đánh giá kết quả THTK, CLP trong chi thường xuyên và các văn bản pháp luật khác có liên quan về THTK, CLP như: Luật Ngân sách nhà nước, Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Luật quản lý nợ công,... ; các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn các Luật này, mà còn tham mưu chính sách tài khóa linh hoạt hiệu quả, góp phần hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19.

Kết quả thực hiện các chính sách miễn, giảm, giãn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất ban hành trong năm 2021 khoảng 119,4 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ gần 120 nghìn doanh nghiệp và 20 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19.

Trong năm 2022, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ và cấp có thẩm quyền ban hành và tiếp tục thực hiện các chính sách thu NSNN hỗ trợ phục hồi thúc đẩy nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.

Trong đó, đã thực hiện giảm thuế suất thuế GTGT từ 10% xuống còn 8% song song với các chính sách giảm thuế, phí, lệ phí đã ban hành cuối năm 2021vẫn còn hiệu lực thi hành trong năm 2022 như: giảm 50% mức thuế BVMT đối với nhiên liệu bay; giảm 50% lệ phí trước bạ; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí và điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Đáng lưu ý, trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới diễn biến phức tạp, tạo sức ép lớn đối với lạm phát trong nước, từ đầu năm tới nay, Bộ Tài chính đã thực hiện nhiều biện pháp bình ổn giá, kịp thời trình Chính phủ báo cáo UBTVQH thông qua Nghị quyết điều chỉnh giảm tới mức sàn thuế BVMT đối với xăng, dầu;

Không chỉ có vậy, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng xăng cũng được điều chỉnh giảm từ mức thuế suất 20% xuống 10%... cùng nhiều chính sách hỗ trợ khác được ban hành như gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2022; gia hạn thời hạn nộp thuế TTĐB đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước.

Đánh giá chung, có thể khẳng định việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đến nay đạt kết quả tốt giúp doanh nghiệp phục hồi, phát triển. Ước tính các chính sách đã ban hành giảm, giãn thuế, phí các doanh nghiệp và người dân trong năm 2022 là 231 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế tổng số tiền thuế, phí, lệ phí được miễn, giảm, gia hạn đến hết tháng 7 ước khoảng 89,2 nghìn tỷ đồng. Trong đó: số tiền gia hạn khoảng 43 nghìn tỷ đồng; số tiền miễn, giảm khoảng 46,2 nghìn tỷ đồng (bao gồm cả 6,3 nghìn tỷ đồng thực hiện các chính sách đã ban hành và thực hiện từ năm 2021 nhưng có tác động làm giảm thu NSNN những tháng đầu năm 2022).

Các giải pháp hỗ trợ nêu trên được đánh giá là kịp thời, có tác động tích cực và được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, góp phần tháo gỡ khó khăn, phục hồi hoạt động SXKD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng.

Bộ Tài chính sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiết kiệm, chống lãng phí
Trong thời gian qua, Bộ Tài chính luôn là cơ quan đi đầu trong việc xây dựng quy chuẩn về TK, CLP.

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ phục hồi nền kinh tế, hoạt động quản lý chi NSNN được Bộ Tài chính thực hiện theo phương châm tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả; tiết kiệm chi thường xuyên, tập trung, ưu tiên nguồn lực cho Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH 347 nghìn tỷ đồng, trong đó 40 nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp, đảm bảo ổn định đời sống xã hội của người dân.

Theo đó, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đề xuất phương án cắt giảm những chương trình, dự án không giải ngân được, bố trí cho chương trình dự án khác nhanh chóng phát huy hiệu quả. Đồng thời, tăng chi đầu tư cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh của ngành y tế; đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở trợ giúp xã hội, đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm; hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; 6.600 tỷ đồng đầu tư cho các đường cao tốc…

Trong quá trình thực hiện, Bộ Tài chính đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương thường xuyên rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi để vừa tăng cường quản lý nhà nước phù hợp với điều kiện thực tiễn, tạo thuận lợi cho đơn vị thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, vừa THTK, CLP, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, tài sản công, nợ công ngay từ khâu xây dựng chính sách, lập dự toán và cả trong quá trình sử dụng, quyết toán NSNN hằng năm.

Trong thời gian tới, chúng tôi tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, định mức, chế độ trong các lĩnh vực theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, giám sát, sử dụng tiết kiệm kinh phí NSNN, tài sản công, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác của đất nước.

-Mỗi một ngành đều có những cái khó riêng về nguyên nhân mà không dễ giải bày, cũng tại buổi làm việc ông Bùi Đức Thụ, nguyên Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng: việc quản lý, sử dụng ngân sách vẫn còn nhiều tồn tại. Điều này có thể khiến không ít người cho rằng đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến lãng phí. Ông có nhận xét thế nào về thực trạng này?

-Thời gian qua, việc quản lý, sử dụng NSNN đã ngày càng chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên ngay từ khâu xây dựng dự toán và tiếp tục được thực hiện triệt để trong quá trình điều hành gắn với việc triển khai công tác sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, đổi mới khu vực sự nghiệp công theo các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XII).

Trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, phòng chống dịch bệnh, các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ NSNN; công tác quản lý, mua sắm tài sản công tại các bộ, ngành và địa phương tiếp tục có chuyển biến, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm theo đúng tinh thần của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn.

Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước các cấp đã tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chi NSNN, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, rút ngắn thời gian, tạo thuận lợi cho các đơn vị sử dụng ngân sách và chủ đầu tư..

Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước được tăng cường đã góp phần phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm. Qua đó, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật NSNN, thúc đẩy THTK, CLP.

Mặc dù đạt được một số kết quả, song qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát hàng năm cho thấy việc quản lý, sử dụng NSNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, tình trạng lãng phí vẫn còn diễn ra ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương, có thể kể đến như: Giao kế hoạch vốn đầu tư công chậm, phải điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn nhiều lần trong năm, phân bổ vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư, không xác định danh mục dự án cụ thể, không có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn, không đúng thứ tự ưu tiên theo quy định, giải ngân vốn đầu tư chậm và không đạt kế hoạch; sơ hở trong công tác xác định giá vật tư, thuốc thiết bị y tế, phân bón, thép, giáo dục, giá đất… Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng Bộ Tài chính mà còn thuộc nhiệm vụ quản lý của các bộ, ngành khác như Kế hoạch & Đầu tư, Y tế, Giáo dục, Công Thương, Tài nguyên môi trường… Vì vậy, việc quản lý phải xuyên suốt, toàn diện và phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương; tăng cường công tác phòng ngừa và tăng cường kiểm tra, thanh tra.

-Nói về tiết kiệm, chống lãng phí là nói về một công việc có độ phủ rất rộng từ ý thức đến hành động, từ công việc nhỏ cho đến lĩnh vực lớn...vì thế khó có thể đòi hỏi hiệu quả đồng bộ trong thời gian ngắn, vậy trong thời gian tới đâu là những lĩnh vực được Bộ Tài chính xác định thứ tự ưu tiên để tập trung triển khai?

-Tiết kiệm, chống lãng phí là phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều cơ quan đơn vị. Trong thời gian tới, Bộ Tài chính xác định một số nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên như:

- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về lãng phí; Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đẩy mạnh thông tin, phổ biến pháp luật về lãng phí và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến THTKCLP.

- Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ NSNN, nguồn lực công; Hoàn thiện hệ thống thu, cơ cấu lại thu, đảm bảo nguồn ngân sách bền vững. Đẩy mạnh việc quản lý tài chính tài sản công và NSNN. Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý chi thường xuyên, tăng cường đấu thầu, đặt hàng, khoán kinh phí, khuyến khích phân cấp, phân quyền, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng NSNN.

- Hoàn thiện thể chế chính sách về quản lý nợ công; gắn kết chặt chẽ quản lý NSNN, NSĐP và nợ công với quản lý ngân quỹ nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước.

- Hoàn thiện quy định về quản lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện dự án đầu tư công.

- Ứng dụng CNTT, xây dựng dữ liệu chuyển đổi số mạnh sẽ, ứng dụng công nghệ AI trong quản lý.

- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên; đất đai, quản lý tài chính, tài sản công.

- Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ quá trình sắp xếp, cổ phần hóa, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và tinh giản biên chế. Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa quản lý; cắt giảm thực chất thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về THTKCLP.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Lê Sơn

In bài viết

Truyền hình