Hiện nay ở Việt Nam, quyền có việc làm đang chịu nhiều tác động của công nghiệp 4.0. Theo dự báo của tổ chức Lao động quốc tế (ILO), 86% lao động ngành dệt may và da giày ở Việt Nam sẽ bị mất việc trong vòng 15 năm tới. Những ngành khác có rủi ro cao như: nông, lâm và thủy sản, công nghiệp chế biến, chế tạo… cũng rơi vào tình trạng tương tự. Làm thế nào để thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bảo đảm quyền có việc làm cho người lao động là một bài toán đang đặt ra nhiều thách thức.
15 nước được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2021-2023 15 nước được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2021-2023

Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 13/10 đã bầu 15 quốc gia làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2021-2023.

Chính phủ ban hành Nghị định yêu cầu người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm phê duyệt vị trí việc làm, số người làm việc Chính phủ ban hành Nghị định yêu cầu người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm phê duyệt vị trí việc làm, số người làm việc

Theo nghị định vừa được Chính phủ ban hành, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập chịu trách nhiệm quyết định phê duyệt ...

Thách thức trong bối cảnh mới

Khái niệm “việc làm” được quy định tại Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 “là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng khẳng định: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Hiện nay ở Việt Nam, quyền có việc làm đang chịu nhiều tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Trước hết, cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra việc làm mới. Công nghiệp 4.0 tập trung chủ yếu số hóa, công nghệ robot và tự động hóa để thay dần sức lao động của con người. Từ đó sẽ làm giảm vai trò của một số ngành công nghiệp cơ khí nhưng lại xuất hiện những việc mới, như công nghệ in 3D, sản xuất trên hệ thống tự động, điện toán đám mây… Đồng thời xuất hiện các nghề mới liên quan đến công nghệ dữ liệu lớn (dự đoán, phân tích hành vi người tiêu dùng hoặc tích hợp, chọn lọc các dữ liệu liên quan đến logictic, điều trị bệnh,...).

Và cũng xuất hiện ngày càng nhiều những người làm nghề tự do trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, thiết kế đồ họa, dịch thuật và các website giới thiệu, tư vấn việc làm... Khái niệm người làm nghề tự do (freelancer) ngày càng trở nên phổ biến ngay tại Việt Nam.

Từ năm 2016 - 2017, theo thống kê của một website dành cho cộng đồng freelancer (Lance.vn), đã có gần 170.000 người làm việc theo hình thức này. Phương thức đào tạo, tuyển dụng lao động cũng thay đổi hoàn toàn so với trước đây. Bên cạnh hơn 100 trung tâm xúc tiến việc làm công lập hằng năm giúp khoảng 3 triệu người tìm việc, các website giới thiệu, tư vấn việc làm ngày càng trở nên phổ biến và đã giúp hàng triệu người tìm việc làm có chất lượng ngày càng cao.

Hiện nay hàng năm Việt Nam phải tạo ra hơn 7 triệu việc làm mới. Trong khi đó đội ngũ lao động vốn được đào tạo ở trình độ cao của công nghiệp cơ khí lại không đáp ứng được yêu cầu của kiểu sản xuất và kỹ năng lao động của công nghiệp 4.0. Mặc dù nước ta hiện đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo các ngành nghề truyền thống mới chỉ đạt khoảng 50% tổng số lực lượng lao động.

Tuy nhiên, việc cắt giảm việc làm cũng đang là thách thức lớn. Chủ tịch FPT-software Hoàng Nam Tiến mới đây cho rằng, một robot may có giá khoảng 200.000 USD (năm 2017); nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sẽ giảm còn 20.000-30.000 USD.

Không có công nhân giá rẻ nào có thể cạnh tranh được với robot; bởi vì chúng hoạt động 24/7/ngày, 7/7 ngày/tuần, 365 ngày/năm và không cần các loại chi phí khác. Ở nước ta, làn sóng taxi công nghệ Grab và Uber, là một biểu hiện rõ nhất của việc áp dụng công nghệ 4.0 và gần như chiếm hầu hết thị phần của taxi truyền thống.

ILO dự báo 86% lao động ngành dệt may và da giày ở Việt Nam sẽ bị mất việc trong vòng 15 năm tới. Những ngành khác cũng có rủi ro cao như: nông, lâm và thủy sản (với 83,3% số việc làm có rủi ro cao); công nghiệp chế biến, chế tạo (74,4% số việc làm có rủi ro cao); bán buôn, bán lẻ (84,1% số việc làm có rủi cao).

Ngay cả những công việc trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống với đặc điểm là lao động thủ công và có tính lặp đi lặp lại cao, cũng có nguy cơ bị thay thế bởi máy móc và thiết bị tự động như: trồng trọt (khoảng 13,7 triệu việc làm); chăn nuôi (gần 3,2 triệu việc làm); làm vườn (1 triệu việc làm); đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (0,84 triệu việc làm);….

Bên cạnh đó, thách thức đối với đào tạo mới gây một áp lực không nhỏ đối với nguồn lực bảo đảm quyền có việc làm. Hiện nay hàng năm Việt Nam phải tạo ra hơn bảy triệu việc làm mới. Trong khi đó đội ngũ lao động vốn được đào tạo ở trình độ cao của công nghiệp cơ khí lại không đáp ứng được yêu cầu của kiểu sản xuất và kỹ năng lao động của công nghiệp 4.0. Mặc dù nước ta hiện đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo các ngành nghề truyền thống mới chỉ đạt khoảng 50% tổng số lực lượng lao động. Sự hạn chế về kỹ năng lao động và tay nghề trong một số ngành đang là nét phổ biến.

Quyền việc làm dưới tác động của Công nghiệp 4.0: Đổi mới tư duy vượt qua thách thức
Ảnh minh hoạ.

Thí dụ, trong đội ngũ nhân lực ngành công nghệ thông tin, 72% số sinh viên ngành này không có kinh nghiệm thực hành; 42% số sinh viên thiếu kỹ năng làm việc nhóm. Số liệu này giải thích tại sao, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên lại cao nhất. Vào năm 2016, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 138,8 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp của nhóm này là 2,79%. Nhóm trình độ cao đẳng có 104,2 nghìn người thất nghiệp; tỷ lệ thất nghiệp nhóm này là 6%. Nhóm trình độ trung cấp có 83,2 nghìn người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp là 3,08%.

Tình hình trên đòi hỏi phải đáp ứng nhu cầu đào tạo cho đối tượng người học mới, đối tượng chuyển đổi nghề nghiệp, đối tượng học bổ sung, nâng cấp trình độ và đào tạo lại nhằm đáp ứng cả về số lượng, chất lượng, tính hiệu quả của lực lượng lao động phù hợp với sự phát triển của công nghiệp 4.0.

Thay đổi tư duy cách tiếp cận quyền việc làm

Thứ nhất, cần nhận thức lại về việc làm. Thực tế ở nước ta hiện nay, việc làm được thừa nhận dưới 4 hình thức: (i) Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó tại khu vực chính thức và không chính thức; (ii) Làm công việc để thu lợi cho bản thân, gia đình và bản thân, gia đình có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó; (iii) Làm các công việc cho gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công; (iv) Người làm nghề tự do (freelancer) ngày càng trở nên phổ biến do tác động của công nghiệp 4.0, đồng thời đang diễn ra quá trình đa dạng hóa việc làm: việc làm chính, việc làm phụ và việc làm thêm, việc làm toàn thời gian và bán thời gian, việc làm tại nhà và việc làm công sở,....

Thứ hai, cần có chính sách thỏa đáng để khai thác, phát huy có hiệu quả nguồn lực mới cho việc làm. Trước tiên nâng cao chất lượng hoạt động của các vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao; có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học, cao đẳng đào tạo về công nghệ và nghề nghiệp.

Đồng thời tăng cường sự hợp tác hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các trường đại học công nghệ để thúc đẩy sự phát triển một số ngành chọn lọc, cơ bản là công nghệ thông tin. Trọng tâm là tiếp tục phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; hoàn thiện chính sách nhập khẩu công nghệ; chủ động tham gia quá trình hoạt động của các khu công nghệ cao, các công viên phần mềm trong khu vực và trên thế giới; ưu tiên tài trợ cho các tổ chức, cá nhân có công trình khoa học - công nghệ xuất sắc.

Thứ ba, đáp ứng linh hoạt, kịp thời cả 2 nhiệm vụ: đào tạo được những nghề chưa từng tồn tại trước đó và những nghề sử dụng công nghệ mới. Mở cửa giáo dục nghề nghiệp theo hướng tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp: nhằm trang bị cho người học những kỹ năng và kiến thức cơ bản, chú trọng trang bị các kỹ năng bổ trợ thiết yếu tại nơi làm việc, gồm: kỹ năng nhận thức; kỹ năng thích nghi, kỹ năng quan hệ con người với con người, kỹ năng ứng xử tại nơi làm việc và giá trị văn hóa, kỹ năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo để phát huy được tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với các thách thức và yêu cầu thay đổi công việc liên tục, giảm nguy cơ thất nghiệp. Quan trọng hơn là đào tạo nhằm thay đổi tư duy người học từ thụ động chờ và xin việc làm sang tư duy tự tạo việc làm, khởi nghiệp sáng tạo trước và sau khi tốt nghiệp.

Thứ tư, tích cực triển khai thực hiện Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ 2019) và sửa đổi Luật Công đoàn. Trong đó, cần phải hoàn thành nhiều Nghị định, thông tư hướng dẫn trong năm 2020 để việc thực thi BLLĐ 2019 được kịp thời. Đây đều là những văn bản pháp lý có những nội dung rất phức tạp như: tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp (điều kiện thành lập, người đứng đầu tổ chức, bộ máy, quyền liên kết,...); hay vấn đề tiền lương tối thiểu, tuổi nghỉ hưu cao hơn theo lộ trình, bình đẳng giới, độ tuổi lao động trẻ em khi tham gia làm việc một số ngành, nghề có tính đặc thù, kể cả việc làm tại khu vực không chính thức,…

Tất cả đều cần được nghiên cứu thấu đáo để vừa phù hợp với thực tiễn trong nước vừa phù hợp với các cam kết quốc tế đã ký kết (Công ước 98 hay 105 của ILO). Trong đó cần coi trọng bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc và bảo đảm việc làm theo hướng: Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 9 và 10 BLLĐ 2019).

Bộ BLLĐ 2019 tạo cơ sở pháp lý để người lao động được làm việc ổn định theo yêu cầu của công việc, tránh tình trạng người sử dụng lao động tùy tiện thực hiện hợp đồng lao động, hoặc gây áp lực đối với người lao động về thời hạn của hợp đồng. Chẳng hạn đối với công việc có tính chất thường xuyên lâu dài hoặc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc có thời hạn trên 36 tháng thì người lao động phải được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Nếu hợp đồng lao động có thời hạn mà hạn đã hết nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, hai bên phải ký hợp đồng lao động mới. Người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động tạm hoãn hợp đồng lao động trong một khoảng thời gian nhất định để thực hiện những công việc cá nhân hay gia đình; có thể chấm dứt hợp đồng lao động để thực hiện một hợp đồng khác... Đây là một trong những nội dung bảo đảm cho người lao động tận dụng tốt các cơ hội việc làm.

Về sửa đổi Luật Công đoàn năm 2012: Trước đây, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thường áp dụng phương pháp tiếp cận “từ trên xuống”, nghĩa là công đoàn cấp trên chỉ tiếp cận người sử dụng lao động hoặc quản lý của doanh nghiệp, yêu cầu doanh nghiệp thành lập công đoàn cơ sở. Sau khi đã nhất trí, việc thành lập công đoàn chỉ do người sử dụng lao động thực hiện; kết quả là công đoàn thường bao gồm các quản lý cấp cao hoặc cấp trung, mà không có sự tham gia của đa số người lao động.

Trong những năm gần đây, tổ chức công đoàn tại nhiều khu công nghiệp đã bắt đầu áp dụng phương pháp tiếp cận “từ dưới lên”, theo đó, lãnh đạo công đoàn khu công nghiệp gặp người lao động, giải thích những quyền lợi và biện pháp bảo vệ mà công đoàn có thể cung cấp và lý do người lao động cần công đoàn. Với phương pháp tiếp cận này, công đoàn trở thành tổ chức của người lao động, chứ không chỉ là một cơ quan hành chính khác ở cơ sở.
Thêm vào đó, một số tổ chức công đoàn tại nhiều khu công nghiệp đã cố gắng thương lượng với nhóm doanh nghiệp để đạt được mức lương và điều kiện lao động cao hơn so với các quy định pháp luật tối thiểu. Đây là những kết quả rất tích cực và là tiền đề tốt cho việc sửa đổi Luật Công đoàn.

Thực hiện giáo dục nghề nghiệp theo kiểu “hai cấp độ”: Thực hiện giáo dục có chọn lọc những ngành nghề truyền thống nhằm thực hiện giảm nghèo và phát triển bền vững, giữ vững ổn định, nhất là ở khu vực nông thôn, nông nghiệp; đồng thời mạnh dạn đi tắt, đón đầu vào giáo dục các ngành nghề hiện đại, theo kiểu công nghiệp 4.0 để chủ động cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng được những nghề chưa từng tồn tại trước đó và những nghề sử dụng công nghệ mới.

41 công nghệ chủ chốt cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mà Bộ KH&CN đề xuất gồm những gì? 41 công nghệ chủ chốt cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mà Bộ KH&CN đề xuất gồm những gì?

Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đang nghiên cứu, lựa chọn xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các ...

Toàn văn Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Toàn văn Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ ...

In bài viết

Truyền hình