Bài 1: TẤM LÒNG BÈ BẠN |
Chúng ta cần ghi nhớ rằng 80 năm qua, bè bạn khắp thế giới đã dâng hiến nhiều máu xương, mồ hôi, nước mắt… cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam này. ------------------------- |
![]() |
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là tâm điểm đoàn kết của các phong trào nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới trong thế kỷ 20.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đã dành cho nhân dân ta sự ủng hộ mạnh mẽ về vật chất và tinh thần. Nhiều hoạt động nhân dân phản đối chiến tranh, ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam được tiến hành tại nhiều nước châu Âu, châu Á và châu Phi, trong đó tại các nước thuộc địa của Pháp như Algeria, Tunisia, Madagascar… đã dấy lên các phong trào chống bắt lính sang chiến trường Đông Dương, không chịu bốc xếp vũ khí để đưa sang Việt Nam. Các tổ chức dân chủ tiến bộ quốc tế đã triển khai nhiều hoạt động biểu dương, tập hợp lực lượng bày tỏ đoàn kết với Việt Nam. Các đại hội của Hội đồng Hoà bình thế giới đều có nghị quyết ủng hộ Việt Nam. Đại hội năm 1951 tại Vienna, Áo ra nghị quyết đòi "Hoà bình ở Việt Nam! Rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam!". Tháng 10/1953, Đại hội Liên hiệp Công đoàn thế giới lần thứ III, cũng tại Vienna, quyết định lấy ngày 19/12/1953 làm "Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh dũng và đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam". Đặc biệt, ngay tại Pháp, phong trào phản đối chiến tranh bùng nổ mạnh mẽ với những tấm gương tiêu biểu như Henri Martin, Raymonde Dien, Madeleine Riffaud… bất chấp đàn áp và giam cầm. Nhiều cuộc đình công, ngăn cản sản xuất, chuyên chở vũ khí và phương tiện chiến tranh từ Pháp sang Đông Dương, biểu tình đòi chính phủ Pháp đi vào đàm phán thực sự và ký hiệp định đình chiến tại Đông Dương diễn ra sôi nổi tại Pháp. Cùng với vai trò quyết định của chiến thắng Điện Biên Phủ, sức ép chính trị của Mặt trận nhân dân Pháp phản đối chiến tranh đã đóng vai trò quan trọng trong việc buộc chính phủ Pháp phải đi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương năm 1954. Trong kháng chiến chống Mỹ, mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam phát triển lên quy mô chưa từng có trong lịch sử. Các đoàn thể, hội hữu nghị, tổ chức quần chúng tại Liên Xô, Trung Quốc, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã tổ chức hàng ngàn cuộc mít tinh, tuần hành, triển lãm, quyên góp thu hút hàng triệu lượt người tham dự bày tỏ tình đoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Hàng trăm tổ chức đoàn kết với Việt Nam đã được thành lập tại các nước châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi. Các nghệ sĩ Cornelis Vreeswijk, Fred kerström, Gösta Cervin (theo thứ tự) trong một cuộc tuần hành phản đối chiến tranh Việt Nam tại Stockholm (Thụy Điển) năm 1965. Khẩu hiệu "Tên bạn là Việt Nam! Tên tôi là Việt Nam! Tên chúng ta là Việt Nam! Việt Nam, Việt Nam!" trở thành tiếng nói chung trong các cuộc tuần hành hàng triệu người ở Ấn Độ. Tại Thụy Điển, các phong trào quần chúng ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam phát triển mạnh mẽ, sâu rộng đã thúc đẩy chính phủ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngay trong thời gian đang diễn ra chiến tranh (tháng 1/1969). Thủ tướng Olof Palmer đã cùng bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu hàng vạn người xuống đường biểu bình tại thủ đô Stockholm, thu thập chữ ký ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nhiều tổ chức dân chủ, tiến bộ quốc tế như Hội đồng Hoà bình thế giới, Liên hiệp Công đoàn thế giới, Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới, Hội Sinh viên quốc tế, Uỷ ban Đoàn kết Nhân dân Á - Phi- Mỹ la tinh… đều triển khai chiến dịch và hoạt động đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Hội nghị châu Á - Phi - Mỹ Latinh tại Cuba (tháng 1/1968) với sự tham dự của đại biểu từ 82 nước và nhiều đại diện của các phong trào giải phóng dân tộc thuộc ba châu lục ra nghị quyết khẳng định: "Việc bảo vệ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược cách mạng của các dân tộc Á, Phi, Mỹ la tinh", đồng thời thành lập Uỷ ban 3 châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại Vancouver (Canada) năm 1968. Cũng trong thời gian này, Toà án nhân dân quốc tế Bertrand Russell (thành lập tháng 11/1966) đã mở hai phiên tòa xét xử ở Stockholm (tháng 5/1967) và Copenhaghen (tháng 11/1967), kết tội đế quốc Mỹ phạm tội ác chiến tranh, tội ác xâm lược và tội ác diệt chủng tại Việt Nam. Đặc biệt, phong trào phản chiến bùng phát mạnh mẽ ngay tại Mỹ với sự tham gia tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ, gây ra một "cuộc chiến ngay trong lòng nước Mỹ". Hàng vạn người tham gia các cuộc hội thảo, các cuộc tuần hành; nửa triệu thanh niên Mỹ từ chối tham gia quân dịch, hàng triệu người tham gia các đợt đấu tranh phản đối cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam. Trong số đó có những gương mặt tiêu biểu như mục sư Luther King, nữ nghệ sĩ Jane Fonda, nhà hoạt động chính trị Angela Davis, nhà hoạt động xã hội Corra Weiss, Merle Ratner… Tám người Mỹ, dẫn đầu là Norman Morrison, đã tự thiêu để phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Các phong trào phản chiến đã tạo sức ép chính trị đáng kể hạn chế khả năng kéo dài chiến tranh của nhà cầm quyền Mỹ, góp phần buộc chính phủ Mỹ phải đi vào đàm phán để rút quân khỏi Việt Nam. |
![]() |
Sau khi đất nước thống nhất, bạn bè quốc tế, các lực lượng tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới lại chung tay giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, chống bao vậy cấm vận, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều hoạt động hòa bình, thiện nguyện như: phẫu thuật nụ cười, rà phá bom mìn, hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam, đi bộ hoà bình, các chuyến thăm của cựu chiến binh... đã góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác quan trọng, đưa các cựu thù trở thành đối tác. Tổ chức MAG (Anh) với sự hỗ trợ từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ triển khai rà phá bom mìn tại tỉnh Quảng Trị. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, sự hỗ trợ quốc tế tiếp tục dưới nhiều hình thức. Viện trợ phi chính phủ nước ngoài (không hoàn lại) được triển khai ở tất cả các tỉnh/thành, giá trị giải ngân trong giai đoạn 2003-2020 đạt trên 5 tỷ USD, hiện nay hàng năm đạt trên 200 triệu USD.
Nhiều gương mặt từng tham gia phong trào phản chiến sau này vẫn gắn bó với Việt Nam: bà Merle Ratner cùng chồng là Giáo sư Ngô Thanh Nhàn vận động thúc đẩy bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam, truyền bá văn hoá, âm nhạc dân tộc Việt Nam cho những người trẻ tuổi trong cộng đồng người Việt tại Mỹ; bà Jerylin Brusseau (Peace Tree Việt Nam), ông Chuck Searcy (Project Renew), cùng nhiều cựu binh Mỹ, gia đình có người Mỹ chết, mất tích trong chiến tranh... đã sáng lập, tham gia các dự án nhân đạo. Họ giúp rà phá bom mìn, hỗ trợ nạn nhân da cam, xây trường học, dạy tiếng Anh… vượt qua mặc cảm quá khứ để hàn gắn những vết thương sâu thẳm trong tâm hồn, gắn kết người dân hai nước. Một câu chuyện đặc biệt khác là Aline Rebeau (tên Việt Nam là Hoàng Nữ Ngọc Tim), từ Thuỵ Sỹ đến thăm Việt Nam khi còn rất trẻ, quyết định ở lại gắn bó hơn 30 năm, xây lên "Nhà may mắn" làm mái ấm chở che cho những đứa trẻ bất hạnh.
Trong đại dịch COVID-19, 57 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã triển khai 123 khoản viện trợ (tập huấn, tuyên truyền, trang thiết bị vật tư y tế, nhu yếu phẩm, tiền mặt,…) trị giá hơn 10,6 triệu USD và ký kết thoả thuận hợp tác, cam kết hỗ trợ Việt Nam trên các lĩnh vực, đặc biệt là khắc phục hậu quả sau dịch. Năm 2024, gần 100 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã hưởng ứng lời kêu gọi của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, cam kết và đã hỗ trợ chương trình cứu trợ khẩn cấp giải quyết hậu quả do bão Yagi gây ra khoảng 230 tỷ đồng. Từ đầu năm 2025, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ "xóa nhà tạm, nhà dột nát" và đã cam kết hỗ trợ xây dựng khoảng 1.600 căn nhà. |
![]() |
Thực hiện: Nhóm PV Thời Đại