e magazine
Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

14/04/2022 13:58

Âm nhạc của một giá hầu (giá hầu: thời gian một vị Thánh nhập – xuất vào thanh đồng) là sự hòa trộn của rất nhiều các thể loại âm nhạc dân gian; của yếu tố bình dân với bác học; của các giai đoạn lịch sử; của các hoạt động đời sống; của con người hiện thực với thế giới tâm linh, thần thánh; của sự bất biến, trường tồn với sự không ngừng sinh sôi, biến động... Một vũ trụ thu nhỏ của văn hóa Việt được thể hiện qua thế giới âm nhạc ở đây.
Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã đồng hành hàng trăm năm với lịch sử văn hóa và đời sống dân tộc Việt. Một trong những giá trị quan trọng nhất của hoạt động tín ngưỡng này chính là âm nhạc. Sự hòa trộn của yếu tố bác học với dân gian; sự giao thoa văn hóa các vùng miền, các dân tộc; sự tiếp biến của văn hóa các giai đoạn lịch sử… đạt đến độ hoàn hảo. Đặc biệt nhất là tính thống nhất cực kỳ cao độ giữa cảm xúc, tâm tưởng của những thành phần tham dự là chủ sự, nghệ nhân, khán thính giả; của đời sống hiện thực với đời sống tâm linh thiêng liêng đã được âm nhạc, diễn xướng ở đây tạo nên một giá trị hiếm có.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Âm nhạc của một giá hầu (giá hầu: thời gian một vị Thánh nhập – xuất vào Thanh đồng) là sự hòa trộn của rất nhiều các thể loại âm nhạc dân gian; của yếu tố bình dân với bác học; của các giai đoạn lịch sử; của các hoạt động đời sống; của con người hiện thực với thế giới tâm linh, thần thánh; của sự bất biến, trường tồn với sự không ngừng sinh sôi, biến động... Một vũ trụ thu nhỏ của văn hóa Việt được thể hiện qua thế giới âm nhạc ở đây.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Theo nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, người nghệ nhân biểu diễn của tín ngưỡng Tam phủ/Tứ phủ trước hết và có tính tiên quyết. Không có giọng hát hay không thể trở thành cung văn đích thực. Bởi giọng hát của cung văn là chìa khóa mở cánh cửa cảm xúc, nối sợi dây rung cảm giữa người trình diễn (dâng văn) đến với người ngồi đồng (chính là thanh đồng, người được Thánh nhập vào khi thực hành nghi lễ hầu đồng).

Do vậy, để trở thành một cung văn có văn - nhạc song toàn, các nhạc sinh cung văn mới nhập môn phải nhận được sự dạy dỗ rất nghiêm chỉnh của các bậc thầy đi trước. Họ phải theo thầy học nhiều năm (học tại gia, học tại đền, học ngay khi hầu Thánh). Học để không chỉ thuộc lời văn, mà còn để biết vận dụng văn đúng lúc, đúng giá đồng khi Thánh giáng; học để chơi thành thạo đàn nguyệt, đàn nhị, sáo, học thành thạo bộ gõ (trống, phách, mõ, chuông, bập beng, kẻng) và đặc biệt phải biết hát, biết “nới văn” để khích lệ ông/bà đồng khi đang nhập Thánh.

Giọng hát hay còn là lực đẩy mạnh mẽ, nhanh chóng đưa người ngồi đồng vào trạng thái nhập đồng. Chuyện kể của con nhang Bùi Văn Tương (Ninh Bình) về cung văn Viễn được thanh đồng Tuệ khi hầu giá ông Hoàng Bảy (Bảo Hà, Lào Cai) thưởng đến 5 triệu tiền lộc. Chính là nhờ sự thăng hoa của cung văn Viễn khi dùng lời ca, tiếng nhạc làm cho thanh đồng thêm say đắm, hay nói như dân trong nghề thì, cung văn “nịnh đồng” rất hay.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan cho rằng, nếu chỉ có giọng hát hay mà không biết chơi nhạc thì cũng không đủ tiêu chuẩn của một cung văn thực thụ. Do đó, muốn trở thành cung văn, người nghệ nhân phải hội tụ đủ hai yếu tố cung và văn. Văn là nội dung tư tưởng dâng trình Thánh, cung là biểu diễn các nội dung đó bằng âm nhạc.

Khi Thánh về nhập đồng, Thánh hành động, cung văn lại bị cuốn hút ngược lại vào quá trình hành động của Thánh đang diễn ra trên thân xác của thanh đồng. Sự kích hoạt này, làm cho cách hát của cung văn thay đổi nhịp độ, nồng độ (tempo) liên tục theo hành vi của vị Thánh khi đã giáng nhập vào thanh đồng.

Sự thay đổi tempo là nguyên nhân khiến cho cung văn phải tự đàn hát mới thực sự thỏa mãn sự hứng khởi cực thịnh của mình. Vì không tay đàn nào có thể theo kịp một cách hoàn hảo sự thay đổi tempo của cung văn khi dâng văn.

“Mặt khác, khi đàn hát cho thanh đồng, cung văn còn phải “đảo văn” (đảo lộn các câu văn trong khi hát không theo một trật tự), “nới văn” (hát thêm các đoạn văn, sáng tác thêm lời trong khi hát), “biến điệu” (là đảo lộn, thêm, bớt các điệu nhạc khi hát) thậm chí là thêm các thổ ngữ, thêm từ, thêm câu một cách ngẫu hứng để tạo thêm sự phong phú cho lời văn và gây thêm sự hưng phấn cho thanh đồng. Sự sáng tạo ngẫu hứng trong lúc hầu Thánh đó, buộc cung văn phải vừa làm nhạc công, vừa làm ca sỹ mới có thể đáp ứng kịp nhu cầu sáng tạo ngẫu hứng tức thì của mình khi hát”, Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Bùi Trọng Hiền, trước hết, cần phải thấy rằng nghệ thuật âm nhạc trong hát văn với hệ thống kỹ thuật biểu hiện phức tạp đã đạt tới tầm cao của một thể loại chuyên nghiệp trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

Ở đây, dường như chúng ta có thể cảm nhận được rằng không có một thể loại âm nhạc tôn giáo tín ngưỡng nào ở Việt Nam đạt được tầm cao về tính thẩm mỹ nghệ thuật như hát văn. Trong đó, chúng ta tìm thấy sự phát triển tột bậc cả về làn điệu âm nhạc cũng như hệ thống kỹ thuật biểu cảm của nhạc thanh.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ
... để vào nhịp và hát theo hành động của vị Thánh khi giáng đồng.

Trong nghệ thuật hát văn không thể không nói đến hệ thống làn điệu phong phú, tinh tế, biểu cảm nhiều sắc thái tình cảm của con người thông qua bóng dáng của chư vị thánh thần. Trong đó, hình thành nhiều làn điệu mang tính chuyên dùng khá cao thể hiện những vai vế, tính cách và giới tính riêng biệt. Với sự đề cao những mô hình tiết tấu có tính chu kỳ, âm nhạc hát văn tựa như những vũ điệu của thánh thần, dìu dặt và mê hoặc lòng người. Cả cung văn và các con nhang đệ tử như tỉnh như say trong sự hòa quyện đồng điệu. Giai điệu tiếng đàn, giọng hát chầu văn có sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên nền nhịp phách lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân thương của nữ tính - của Mẹ - Thánh Mẫu trong hệ thống thần điện Tam phủ/ Tứ phủ của người Việt.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Hải Minh, hát văn gồm sáu nhóm làn điệu chính: Nhóm bỉ, nhóm dọc, nhóm cờn, nhóm phú, nhóm xá, nhóm nhịp một và một vài làn điệu dân ca được chầu văn hoá.

Các điệu hát nhóm bỉ phần lớn tiết tấu, trường độ không rõ ràng. Âm nhạc mang tính ngâm ngợi, tự do. Điệu bỉ thường được dùng ở phần đầu của các bản văn hát thờ, văn thi hoặc được dùng trong các đoạn nối tiếp giữa các làn điệu, cũng có khi điệu bỉ được dùng để chuyển sang một làn điệu khác như bỉ chim thước ở giá Cậu, bỉ thơ ở giá ông Hoàng.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ
Âm nhạc "dẫn dắt" hành động của thanh đồng.

Các điệu dọc, âm nhạc khúc chiết, kết cấu rõ ràng. Các làn điệu dọc thường được dùng ở các giá quan lớn, giá ông Hoàng, giá các Cô (đồng bằng), giá Cậu khi hầu đồng.

Các điệu cờn được phân ra làm hai loại: cờn xuân tính chất âm nhạc trữ tình tự sự, giai điệu mượt mà. Cờn oán có tính chất buồn ai oán nên được sử dụng trong hát văn thi, văn thờ, nhất là các bản văn mẫu.

Các điệu phú âm nhạc chậm rãi ngâm ngợi, tính chất thanh cao, nhịp điệu tự do. Bởi tính chất tự do, nên phú chỉ hát đơn chứ không hát đôi. Các điệu phú thường được dùng trong hát văn các giá hàng Quan, ông Hoàng, Mẫu, Trần Triều và dùng cho các giá Nam Thần.

Các điệu xá có tiết tấu nhanh, vui, tính chất trữ tình, tự sự, thay đổi đột ngột, nhịp điệu tự do. Vì vậy các điệu xá thường không hát hai người. Mỗi khổ của điệu xá thường gồm ba câu lục bát hát theo lối gối khổ (lặp lại câu văn trước, nối với câu văn sau theo một cấu trúc, trình tự nhất định).

Các điệu nhịp một, vui khoẻ, mạnh mẽ, nhấn ở đầu nhịp, tạo nên tiết tấu rõ ràng thường dùng miêu tả động tác múa trong hầu đồng, như: múa mồi, hái hoa, múa quạt miêu tả đời sống lao động như quẩy lẵng hoa, quả... Các điệu này, thường chỉ dùng trong các bản văn Thánh, như các giá chầu Bà, các giá Cô, theo nghi lễ hát thờ, văn Mẫu... Điệu này không dùng trong các hàng quan lớn.

Tùy theo ý nghĩa của từng đoạn cung văn mà các làn điệu được sắp xếp cho phù hợp thường là điệu bỉ bao giờ cũng được dùng để mở đầu, sau đó đến điệu miễu, điệu thống.

Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng mượt mà như: Làn điệu cờn, dọc, xá bằng, xá thượng, nhịp một, chèo đò, lới lơ, cò lả, điệu lưu thuỷ, điệu kim tiền... thì ở âm nhạc hát văn, tính chất dân gian thể hiện rất rõ trong cấu trúc kết cấu giai điệu. Khó có một thể loại âm nhạc dân gian nào lại thu hút vào nó nhiều âm hưởng của các loại hình dân ca khác nhau đến như vậy.

Bài 1: Bản giao hưởng của vũ trụ
Một vũ trụ thu nhỏ của văn hóa Việt được thể hiện qua thế giới âm nhạc ở đây.

Qua nghiên cứu ta thấy ở hát văn có ảnh hưởng của dân ca Đồng bằng Bắc bộ, như các làn điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả. Có ảnh hưởng của âm nhạc thính phòng dân gian như: Hành vân, ngũ đối, kim tiền, lưu thuỷ, bình bán. Ảnh hưởng của ca trù như các làn điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú xuân, phú tỳ bà, phú cửa đình, phú hạ. Ảnh hưởng của chèo như phú dầu, lới lơ. Của quan họ với các làn điệu như đường trường chim thước. Ảnh hưởng của cải lương như xá quảng (ảnh hưởng của âm nhạc và dân ca Quảng Đông, Trung Quốc). Ảnh hưởng của tuồng như kiều dương thượng. Ảnh hưởng của dân ca miền núi các tỉnh phía Nam như dân ca xê đăng và dân ca Huế như hò Huế, hò nhịp một, cờn Huế...

Việc thu hút những yếu tố âm nhạc của nhiều vùng, nhiều địa phương trong hát văn không chỉ làm cho âm nhạc tín ngưỡng thờ mẫu thêm phong phú, giàu màu sắc mà còn giúp cho tín ngưỡng này có điều kiện thâm nhập, phổ biến nhanh chóng, sâu rộng trên một địa bàn rộng lớn ở khắp ba miền Trung, Nam, Bắc, cả miền núi lẫn miền xuôi.

Nội dung: Nhất Nam

Thiết kế: Tào Đạt

pv