16:40 | 27/04/2026
Trong bối cảnh sản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng với cường độ cao, tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) vẫn là rủi ro hiện hữu, tác động trực tiếp đến người lao động.
Giữa năm 2024, chị H.T.P, một công nhân Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Phòng, bị tai nạn lao động khiến chị phải nghỉ việc 6 tháng do sức khỏe suy giảm. Sau khi có kết quả giám định thương tật, chị Phượng được hưởng trợ cấp 1 lần với tổng số tiền 39 triệu đồng.
Chị P cho hay khi gặp tai nạn, rủi ro, mất sức lao động, tiền hỗ trợ từ bảo hiểm TNLĐ, BNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp người lao động yên tâm điều trị, hồi phục, nhanh chóng quay trở lại công việc.
![]() |
| Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là “lá chắn” an sinh bảo vệ người lao động. (Ảnh minh họa: KT) |
Những trường hợp không may gặp tại nạn và được nhận trợ cấp từ quỹ bảo hiểm như chị P không phải hiếm. Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2025 có hơn 7.100 người được giải quyết hưởng chế độ, trong đó 2.099 người nhận trợ cấp hằng tháng và 5.019 người nhận trợ cấp một lần.
Điểm đáng chú ý là chính sách không chỉ dừng lại ở chi trả tài chính. Quỹ bảo hiểm còn hỗ trợ phục hồi chức năng, giám định mức suy giảm khả năng lao động, khám sức khỏe định kỳ và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
Theo quy định, người lao động suy giảm từ 5 – 30% khả năng lao động được hưởng trợ cấp một lần, từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng. Trường hợp suy giảm từ 81% trở lên và thuộc diện đặc biệt còn được hưởng thêm trợ cấp phục vụ. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng bảo hiểm y tế trong thời gian nhận trợ cấp.
Chính sách này càng trở nên ý nghĩa trong bối cảnh mỗi năm xảy ra hàng nghìn vụ TNLĐ ở nước ta. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, năm 2025, cả nước xảy ra 7.004 vụ tai nạn lao động, giảm 15,47% so với năm 2024; số người bị nạn là 7.156 người, giảm 15,53%. Số vụ tai nạn chết người cũng giảm còn 621 vụ (giảm 9,33%), với 658 người tử vong (giảm 9,49%).
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Thời Đại, những tác động tích cực của chính sách bảo hiểm TNLĐ, BNN là một trong những nguyên nhân quan trọng, ảnh hưởng tới quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài trước khi vào Việt Nam.
Nhìn chung, tình hình TNLĐ trong năm 2025 có xu hướng giảm so với năm 2024 ở hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu. Điều này cho thấy các biện pháp tăng cường quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động, công tác thanh tra, kiểm tra và tuyên truyền nâng cao nhận thức về an toàn lao động trong thời gian qua đã bước đầu phát huy hiệu quả.
Tuy nhiên, báo cáo cũng ghi nhận số người bị thương nặng do tai nạn lao động trong năm 2025 lại có xu hướng tăng, với 1.631 người bị thương nặng, tăng 85 người (tương ứng tăng 5,5%) so với năm 2024. Thực tế này cho thấy nguy cơ mất an toàn lao động trong một số ngành nghề, lĩnh vực vẫn còn tiềm ẩn, đặc biệt tại các vị trí công việc có yếu tố nguy hiểm cao.
Có thể thấy, chính sách bảo hiểm TNLĐ, BNN đang ngày càng khẳng định vai trò như một “lá chắn” an sinh quan trọng, vừa bảo vệ người lao động, vừa góp phần ổn định thị trường lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn những điểm nghẽn như: thủ tục hành chính chưa đồng bộ do thiếu kết nối dữ liệu liên ngành, tình trạng chậm đóng - trốn đóng bảo hiểm ở một số nơi, hay những khoảng trống pháp lý trong xác định thời điểm ổn định thương tật.
Một thực tế đáng lo ngại khác là tỷ lệ doanh nghiệp tham gia huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động còn thấp so với tổng số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động. Một bộ phận doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa thực sự coi đầu tư cho an toàn lao động là ưu tiên…
Bên cạnh đó, theo Bộ Nội vụ, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện báo cáo tình hình TNLĐ về Sở Nội vụ còn thấp. Thực tế cho thấy phần lớn doanh nghiệp chỉ thực hiện báo cáo khi xảy ra tai nạn lao động, trong khi nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo định kỳ theo quy định. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt dữ liệu thống kê, gây khó khăn cho việc phân tích xu hướng, đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng chính sách phòng ngừa TNLĐ trên phạm vi toàn quốc.
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ nhiều yếu tố. Một mặt, nhận thức và ý thức chấp hành chế độ báo cáo của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Mặt khác, quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian qua đã dẫn đến sự thay đổi về đầu mối quản lý, nhân sự và quy trình tiếp nhận báo cáo tại một số địa phương, ảnh hưởng đến tiến độ tổng hợp và chất lượng dữ liệu báo cáo.
Để nâng cao việc thực hiện chính sách bảo hiểm TNLĐ – BNN, nhiều giải pháp đã và đang được triển khai, ví dụ như chính sách hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động từ Quỹ bảo hiểm với mức hỗ trợ lên tới 70% chi phí theo quy định đã giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong phòng ngừa rủi ro; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ với Luật BHXH năm 2024; đầu tư mạnh mẽ vào công tác an toàn, vệ sinh lao động…
Cùng với đó, việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số đang từng bước nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, đơn giản hóa thủ tục trong lĩnh vực này.
Có thể thấy, trong dài hạn, bảo hiểm TNLĐ, BNN không chỉ là chính sách hỗ trợ khi rủi ro xảy ra, mà còn là nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững. Khi người lao động được bảo vệ, doanh nghiệp sẽ ổn định sản xuất, còn nền kinh tế có thêm động lực tăng trưởng lâu dài. Đây chính là vòng tròn tích cực mà chính sách đang hướng tới trong quá trình xây dựng một thị trường lao động an toàn, nhân văn và hiện đại.
PV