16:05 | 10/03/2026
![]() |
| Hội thảo quốc tế “Thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hướng tới đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Ấn Độ". (Ảnh: Mai Anh) |
Hội thảo do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị thành phố Hà Nội phối hợp với Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ thành phố Hà Nội tổ chức.
Tham dự Hội thảo có ông Ngô Lê Văn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; PGS. TS Tạ Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; ông Tshering W. Sherpa, Đại sứ Cộng hòa Ấn Độ tại Việt Nam; ông Nguyễn Ngọc Kỳ, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị thành phố Hà Nội cùng nhiều học giả, chuyên gia đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam và Ấn Độ.
Tại hội thảo, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận nhiều nội dung liên quan đến triển vọng thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương trong giai đoạn mới. Các tham luận tập trung phân tích những vấn đề nổi bật trong thương mại Việt Nam - Ấn Độ, lợi thế so sánh giữa hai nền kinh tế, cũng như các lĩnh vực hợp tác tiềm năng. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng chia sẻ kinh nghiệm, nhận diện những rào cản trong thương mại, đầu tư và đề xuất nhiều sáng kiến nhằm thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, tăng cường hợp tác kinh tế hai chiều và hướng tới xây dựng khuôn khổ đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Ấn Độ trong thời gian tới.
Theo PGS.TS Tạ Minh Tuấn, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, đặc biệt từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2016, hợp tác song phương đã mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Trong giai đoạn 2016 - 2025, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ đã tăng gấp ba lần (từ 5,4 tỷ USD lên 16,4 tỷ USD). Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với tiềm năng phát triển và vị thế quốc tế ngày càng gia tăng của mỗi nước, hợp tác kinh tế vẫn chưa đạt đến mức tương xứng với chiều sâu chính trị và nhu cầu phát triển chiến lược của hai bên. Dư địa hợp tác vẫn còn rất lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực như: công nghệ cao, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng xanh, kết nối hạ tầng và các chuỗi cung ứng mới.
![]() |
| PGS. TS Tạ Minh Tuấn, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. (Ảnh: Mai Anh) |
Theo ông Tuấn, hai nền kinh tế có nhiều điểm bổ trợ cho nhau: Ấn Độ có thế mạnh về công nghệ thông tin, dược phẩm, công nghệ không gian và năng lượng tái tạo; trong khi Việt Nam là trung tâm sản xuất và xuất khẩu quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện và mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng khắp.
Một số chuyên gia cho rằng để tạo động lực mới cho hợp tác kinh tế song phương, Việt Nam và Ấn Độ cần chú trọng hơn tới các lĩnh vực công nghệ cao và các ngành kinh tế mới nổi.
GS. Sonu Trivedi (Khoa Chính trị học, Trường Zakir Husain, Đại học Delhi) nhận định quan hệ kinh tế giữa hai nước trong thời gian qua vẫn chủ yếu dựa trên các mặt hàng thương mại truyền thống như nông sản, thủy sản, gia vị, dệt may hay linh kiện điện tử. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh, hai nước có nhiều cơ hội mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, bán dẫn, khoáng sản chiến lược, dược phẩm và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Theo GS. Sonu Trivedi, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, trước hết hai nước cần gắn kết hợp tác theo ngành với đổi mới khoa học - công nghệ, thúc đẩy các cơ chế chuyển giao công nghệ song phương. Đồng thời, việc phát triển hạ tầng số và hài hòa các quy định về thương mại số sẽ giúp giảm bớt các rào cản phi thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sâu hơn vào thương mại điện tử xuyên biên giới.
![]() |
| GS. Sonu Trivedi, Khoa Chính trị học, Trường Zakir Husain, Đại học Delhi. (Ảnh: Mai Anh) |
Bên cạnh đó, hai nước có thể xem xét thiết lập các cơ chế tạo thuận lợi cho đầu tư như hiệp định đầu tư song phương, các khu đầu tư ưu đãi hoặc các cơ quan xúc tiến đầu tư chung nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường kết nối doanh nghiệp. Tôi cũng cho rằng việc xây dựng các chương trình nghiên cứu chung, cơ chế tài trợ song phương cho các dự án R&D và khuôn khổ bảo hộ sở hữu trí tuệ sẽ giúp thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa hai quốc gia.
Một sáng kiến đáng cân nhắc là hình thành Hành lang Công nghệ Xanh Ấn Độ - Việt Nam, kết nối các doanh nghiệp năng lượng tái tạo, công nghệ sạch và các dự án chuyển đổi xanh. Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam có trữ lượng đất hiếm đáng kể và Ấn Độ đang phát triển mạnh ngành bán dẫn, hai nước có thể thúc đẩy các sáng kiến hợp tác về khoáng sản chiến lược và công nghiệp bán dẫn, qua đó xây dựng chuỗi cung ứng công nghệ cao bền vững và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn cung đơn lẻ trên thị trường toàn cầu.
Những gợi ý hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao và chuỗi cung ứng mới cũng mở ra khả năng mở rộng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ theo hướng đa phương, gắn với các đối tác kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới.
Ở góc độ rộng hơn, GS. Reena Marwah (Trường Jesus and Mary College, Đại học Delhi) cho rằng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, Việt Nam và Ấn Độ có thể tăng cường hợp tác với các đối tác khác nhằm xây dựng các chuỗi cung ứng bền vững và linh hoạt hơn. Những diễn biến gần đây như việc Việt Nam nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với EU và việc Ấn Độ hoàn tất FTA với EU không chỉ là các bước tiến song phương riêng lẻ mà có thể trở thành những trụ cột bổ trợ lẫn nhau của một cấu trúc hợp tác mới tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
![]() |
| GS. Reena Marwah, Trường Jesus and Mary College, Đại học Delhi. (Ảnh: Mai Anh) |
Ấn Độ có thể đóng góp về quy mô thị trường, hạ tầng số công cộng và nguồn nhân lực công nghệ; Việt Nam có lợi thế về sản xuất, tính linh hoạt của chuỗi cung ứng và vị trí kết nối trong ASEAN; trong khi EU có thể bổ sung về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn quy định và các khuôn khổ phát triển bền vững. Sự kết hợp này sẽ tạo ra một cấu trúc hợp tác bổ trợ, thay vì cạnh tranh trực tiếp.
Để làm được điều này, ba bên cần tập trung vào một số hướng đi cụ thể. Trước hết là thúc đẩy liên kết giữa các khuôn khổ thương mại hiện có với các chương trình hợp tác về công nghệ, đầu tư, kết nối và chuyển đổi xanh, thay vì để các cơ chế này vận hành rời rạc. Bên cạnh đó, cần khuyến khích các liên doanh trong những lĩnh vực có tính chiến lược như bán dẫn, nguyên liệu thô quan trọng, dược phẩm, hạ tầng số, năng lượng sạch và logistics xanh.
Tuy nhiên, để mô hình ba bên vận hành hiệu quả, các bên cũng cần xử lý những rào cản còn tồn tại như khác biệt về tiêu chuẩn và quy định, vấn đề dữ liệu, năng lực điều phối thể chế, cũng như những sức ép địa chính trị từ môi trường bên ngoài. Thành công của khuôn khổ này sẽ phụ thuộc vào ý chí chính trị đủ mạnh, các cơ chế phối hợp đủ linh hoạt và việc lựa chọn đúng những dự án có tác động lớn, có thể triển khai thực tế và mở rộng trong tương lai.
Theo các chuyên gia, nếu được thúc đẩy hiệu quả, những hướng hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuỗi cung ứng chiến lược không chỉ giúp đa dạng hóa cơ cấu thương mại song phương mà còn tạo nền tảng vững chắc hơn cho quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trong giai đoạn tới.
| Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM đón nhận tin vui khi trở thành đơn vị đầu tiên tại miền Nam đạt ISO 15189:2022 trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, đúng dịp kỷ niệm 5 năm thành lập bệnh viện. |
| Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ, Việt Nam phản đối các hành vi sử dụng vũ lực tấn công vào các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt vào các cơ sở hạ tầng dân sự khiến nhiều người dân bị thiệt mạng. |
Mai Anh