![]() |
![]() |
Khi quyết định rời Nam Ninh (Trung Quốc) sang Việt Nam học tiến sĩ, tôi từng nghĩ thử thách lớn nhất sẽ là rời xa gia đình để thích nghi với môi trường hoàn toàn mới. Chỉ khi bắt tay vào luận án, tôi mới hiểu thử thách lớn nhất lại nằm trên bàn viết.
Có chương vừa sửa xong đã phải viết lại. Có tuần, tôi đi từ thư viện đến những chuyến khảo sát thực tế rồi trở về tiếp tục ngồi trước màn hình máy tính đến tận khuya. Luận án chưa hoàn thành thì ba vòng bảo vệ với hàng loạt yêu cầu và thủ tục khác nhau đã nối tiếp chờ phía trước. Có lúc tôi thực sự hoang mang, tự hỏi liệu mình có đủ sức đi hết chặng đường ấy hay không.
![]() |
| Vi Hồng Nguyệt (thứ ba từ trái sang) cùng các bạn du học sinh Trung Quốc, Nhật Bản dùng bữa tại gia đình một người địa phương trong chuyến thực địa tại Hòa Bình vào tháng 9 năm 2024. (Ảnh: NVCC) |
Nhưng rồi tôi nhận ra, trên hành trình ấy, mình chưa bao giờ phải bước đi một mình.
![]() |
![]() |
Người đầu tiên tôi luôn nhớ đến là thầy hướng dẫn.
Cuối tuần, thầy cô thường gọi tôi đến nhà ăn cơm. Có hôm tôi được học cách làm nem cuốn, pha nước chấm; có hôm lại được rủ đi chợ mua trái cây. Tôi dần quen với vị chanh tươi trong bữa ăn, biết cách cuốn một chiếc nem sao cho không bị rách, rồi yêu thích những quả vải, nhãn, bưởi, roi mà trước đây hiếm khi được ăn.
![]() |
Sau này trở về Nam Ninh, tôi vẫn giữ nguyên những thói quen ấy. Thỉnh thoảng tôi lại tự cuốn nem cho gia đình và học trò của mình. Mỗi lần cẩn thận cuốn từng lớp bánh tráng, tôi lại nhớ đến căn bếp nhỏ ở Hà Nội. Có những hương vị đi theo người ta rất lâu, bởi điều còn đọng lại không chỉ là món ăn, mà là tình cảm của những người đã dạy mình làm ra món ăn ấy.
Có những tối cuối tuần, sau bữa cơm gia đình, chiếc bàn ăn lại trở thành nơi hai thầy trò cùng sửa luận án đến gần nửa đêm. Thầy đọc từng trang bản thảo, cô lặng lẽ mang trà và hoa quả ra bàn. Không ai nói những lời lớn lao, nhưng chính những buổi tối bình dị ấy khiến tôi cảm nhận rõ rằng mình không chỉ là một nghiên cứu sinh đến từ Trung Quốc, mà còn là một người học trò được cả gia đình thầy yêu thương và đón nhận.
Nếu thầy cô giúp tôi vững vàng trong học tập thì những người bạn Việt Nam lại khiến cuộc sống xa quê của tôi trở nên ấm áp hơn rất nhiều.
|
Hà Nội cách Nam Ninh khoảng 400 km. Vì thế, mỗi khi gia đình có việc đột xuất, tôi lại bắt xe về quê vài ngày rồi quay trở lại Việt Nam. Tôi và anh Sơn – người anh thân thiết có một lời hẹn rất giản dị: khi tôi chuẩn bị quay lại Việt Nam, tôi sẽ nhắn cho anh một tin.
Có những buổi sáng, khi trời Hà Nội còn chưa kịp sáng hẳn, điện thoại của tôi đã đổ chuông.
“Nguyệt ơi, hai mươi phút nữa anh đến cổng trường nhé.”
Nhà anh cách trường tôi gần bốn mươi cây số, cả tuần bận rộn với công việc, vậy mà mỗi lần biết tôi quay lại Hà Nội, anh vẫn tranh thủ chạy xe sang chỉ để cùng tôi ăn một bữa sáng.
Chúng tôi chỉ kịp ngồi với nhau bên một bát phở. Anh hỏi luận án đến đâu rồi, cuộc sống có ổn không, có cần giúp gì không. Ăn xong, anh cười: “Thôi về viết nốt luận án đi, anh đi làm đây, không muộn.”
Một cuộc gặp gỡ chóng vánh, chỉ để anh chắc chắn rằng cô em gái người Trung Quốc của mình đã quay lại Hà Nội bình an và không cảm thấy cô đơn.
![]() |
![]() |
| Vi Hồng Nguyệt về dự đám cưới một người bạn tại Hưng Yên năm 2025. (Ảnh: NVCC) |
Sự ấm áp ấy còn đến từ rất nhiều người khác.
Có lần, một người bạn mời tôi về Hưng Yên dự đám cưới. Tôi ngồi giữa những mâm cỗ đông vui, hết cô bác này lại đến anh chị khác gắp thức ăn vào bát, rót thêm nước rồi hỏi han bằng những câu tiếng Việt mà nhiều lúc tôi còn chưa kịp hiểu hết. Không ai coi tôi là vị khách đến từ Trung Quốc. Mọi người chỉ giới thiệu tôi là “bạn của cô dâu, chú rể”, rồi kéo tôi vào chụp ảnh chung như một người thân trong gia đình.
Tôi không còn cảm thấy mình chỉ là một người đến Việt Nam học tập, mà thực sự trở thành một phần trong cuộc sống của họ.
Sau nhiều năm tiếp xúc với người Việt Nam, tôi nhận ra điều khiến mình xúc động không chỉ là sự hiếu khách. Người Việt có một cách rất tự nhiên để mở rộng khái niệm gia đình. Chỉ cần là bạn của người thân, người ta cũng sẵn sàng coi như người nhà. Những mối quan hệ ấy không được tạo nên bởi huyết thống, mà bằng sự chân thành và tin cậy. Có lẽ cũng vì thế mà một người nước ngoài như tôi chưa bao giờ cảm thấy mình là người đứng ngoài.
![]() |
| Vi Hồng Nguyệt (ngoài cùng bên phải) trong một chuyến đi thực tế cùng các đồng nghiệp Việt Nam ở Sapa năm 2025. (Ảnh: NVCC) |
Người ta thường nhắc đến Việt Nam bằng phong cảnh, ẩm thực hay những di sản nổi tiếng. Nhưng với tôi, điều đáng nhớ nhất lại là con người.
Có những sự quan tâm rất nhỏ mà nếu chỉ đi du lịch vài ngày có lẽ tôi sẽ không bao giờ cảm nhận được: lời hỏi han sau giờ học, bữa cơm cuối tuần, cuộc điện thoại lúc sáng sớm hay một lời rủ đi uống cà phê khi biết tôi đang căng thẳng vì luận án. Chính những điều bình dị ấy đã khiến quãng thời gian xa quê của tôi bớt cô đơn.
Tôi luôn nghĩ giao lưu giữa các quốc gia không chỉ được tạo nên từ những hội nghị hay những chuyến thăm cấp cao. Những nền tảng bền vững nhất nhiều khi lại bắt đầu từ những điều rất nhỏ: một người thầy tận tình với nghiên cứu sinh nước ngoài, một gia đình mời bạn bè ngoại quốc vào bữa cơm cuối tuần hay một người bạn dậy từ sáng sớm chỉ để cùng ăn một bát phở. Chính những cuộc gặp gỡ bình dị ấy đã giúp tôi hiểu Việt Nam bằng trải nghiệm của chính mình.
![]() |
| Vi Hồng Nguyệt cùng những người bạn Việt Nam. (Ảnh: NVCC) |
Những điều ấy không có trong bất kỳ giáo trình nào, nhưng lại giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về con người Việt Nam. Tôi hiểu rằng điều khiến nhiều người nước ngoài lưu luyến mảnh đất này không chỉ là phong cảnh hay ẩm thực, mà còn là sự chân thành, hiếu khách và tình người luôn hiện diện trong những điều giản dị nhất của cuộc sống.
Ngày tôi bảo vệ luận án, vì điều kiện công việc và khoảng cách địa lý mà gia đình tôi không thể sang Việt Nam. Nhưng khán phòng hôm ấy lại có rất nhiều thầy cô, bạn bè Việt Nam đến chúc mừng.
Có người hỏi tôi: “Sao không thấy gia đình em sang?”
Tôi nhìn quanh căn phòng. Thầy cô, bạn bè, những người không cùng dòng máu đã đồng hành cùng tôi suốt mấy năm qua đều đang ở đó. Tôi mỉm cười trả lời: “Sao lại không có gia đình chứ? Những người bạn, người thầy đến đây hôm nay đều là người thân của em”.
Mọi người nghe xong đều bật cười. Nhưng với tôi, đó không phải là một câu nói vui. Đó là điều tôi thật sự cảm nhận được sau những năm tháng sống, nghiên cứu và học tập ở Việt Nam.
![]() |
| Nhiều bạn bè đã đến chúc mừng Vi Hồng Nguyệt trong ngày bảo vệ luận án tiến sĩ. (Ảnh: NVCC) |
Nhìn lại hành trình nghiên cứu sinh, tôi vẫn nghĩ nó khó hơn rất nhiều so với những gì mình từng tưởng tượng. Nhưng cũng chính vì những gian nan ấy, tôi càng cảm nhận rõ hơn sự ấm áp của những con người đã âm thầm giúp đỡ, động viên và yêu thương mình như người thân.
Tôi từng nghĩ những năm nghiên cứu sinh của mình sẽ chỉ còn lại ký ức về những trang luận án và những đêm thức trắng. Nhưng điều theo tôi về Nam Ninh lại là căn bếp nhỏ nơi tôi vụng về cuốn cái nem đầu tiên, là chiếc bàn ăn nơi thầy kiên nhẫn sửa từng trang bản thảo, là bát phở buổi sáng với người anh Việt Nam và những gương mặt đã ở bên trong ngày tôi bảo vệ luận án.
Tôi đến Việt Nam để học tập. Nhưng điều quý giá nhất tôi mang về Nam Ninh lại không nằm trong tấm bằng tiến sĩ.
Đó là niềm tin rằng giữa những con người đến từ hai đất nước khác nhau vẫn có thể hình thành một tình thân chân thành và tự nhiên.
Ở nơi từng là đất khách, tôi đã tìm thấy những “người thân” của mình.
Và đó có lẽ là món quà đẹp nhất mà Việt Nam dành cho tôi.











