

Hữu nghị, hiểu biết và tin cậy ở khu vực biên giới
Đối ngoại quốc phòng cùng đối ngoại nhân dân góp phần thắt chặt tình hữu nghị, hiểu biết và tin cậy, nhất là với các nước láng giềng liền kề.
Các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương biên giới, các lực lượng liên quan cũng như với lực lượng chức năng của các nước láng giềng trong quản lý, bảo vệ biên giới, cửa khẩu; đấu tranh phòng, chống tội phạm; ứng phó dịch bệnh, thiên tai; tìm kiếm cứu nạn; phát huy hiệu quả hình thức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, duy trì và nhân rộng mô hình kết nghĩa giữa các địa phương, đơn vị và nhân dân hai bên biên giới với Lào, Campuchia, Trung Quốc.
Đặc biệt, nhiều đơn vị Bộ đội Biên phòng các tỉnh, thành phố đã chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ thiết thực đối với nhân dân các nước có chung đường biên giới trên bộ, phù hợp với điều kiện và đặc thù từng địa bàn.
Thời gian qua, thông qua chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi Đồn Biên phòng”, Bộ đội Biên phòng đã nhận đỡ đầu nhiều học sinh Lào và học sinh Campuchia có hoàn cảnh khó khăn đến khi học hết lớp 12; phối hợp với chính quyền địa phương các cấp tổ chức trao tặng bò giống cho các hộ gia đình nước bạn có chung đường biên giới tại các địa bàn khu vực giáp biên.
Quân y Bộ đội Biên phòng các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào đã tổ chức khám bệnh và cấp thuốc miễn phí, tư vấn sức khoẻ kết hợp vận động quần chúng cho người dân địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhân dân Lào; qua đó, góp phần cải thiện đời sống nhân dân hai bên biên giới, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau.
Thế mạnh riêng, sức mạnh chung
Sự đa dạng của các tổ chức thành viên cần được phát huy thành những thế mạnh bổ trợ cho nhau.
Nguồn thông tin, tri thức và mạng lưới chuyên gia của các tổ chức thành viên chưa được khai thác đầy đủ cho công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu. Nếu được tập hợp, phân tích và kết nối với đội ngũ chuyên gia phù hợp, đây có thể trở thành một nguồn thông tin bổ sung có giá trị cho công tác nghiên cứu và tham mưu về đối ngoại nhân dân.
Các thông tin, vấn đề đặt ra qua tiếp xúc đối tác và tham gia các diễn đàn có thể cung cấp chất liệu và định hướng cho hoạt động nghiên cứu; ngược lại, kết quả nghiên cứu cần phải hỗ trợ trực tiếp hơn cho việc xác định nội dung, đối tác và phương thức triển khai hoạt động đối ngoại. Việc hình thành được vòng liên kết này sẽ giúp hoạt động nghiên cứu bám sát hơn yêu cầu thực tiễn, đồng thời nâng cao chất lượng và tính chủ động của hoạt động đối ngoại nhân dân.
Bên cạnh đó, cần kết nối tốt hơn nguồn lực riêng của các tổ chức thành viên để tạo thành nguồn lực lớn hơn của hệ thống Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Giá trị của những nguồn lực này sẽ được nhân lên nếu có cơ chế chia sẻ và phối hợp phù hợp.


“Thương hiệu đối ngoại” từ lịch sử, văn hóa địa phương
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị thành phố Hà Nội đã chọn “Hòa bình” và “Hữu nghị” làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt để xây dựng các chương trình mang tính biểu tượng thường niên như Giao lưu nghệ thuật quốc tế Chào năm mới, Du xuân hữu nghị, Giao lưu chúc mừng Tết một số nước châu Á, Giao lưu hữu nghị “Sắc màu văn hoá ASEAN”, Hành trình xe đạp hữu nghị vì Hà Nội xanh…
Các sự kiện thu hút nhiều Đại sứ, cán bộ ngoại giao, đại diện các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam cùng đông đảo quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên Thủ đô tham gia.
Để hoạt động đối ngoại nhân dân có chiều sâu và tạo hiệu ứng lan tỏa, cần khai thác triệt để “nguồn tài nguyên” nội tại của địa phương. Mỗi địa phương đều có lợi thế riêng về lịch sử, danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa, làng nghề truyền thống. Các hoạt động giao lưu hữu nghị góp phần gắn kết bạn bè quốc tế với người dân địa phương, đồng thời mở thêm cơ hội hợp tác, đầu tư cho địa phương.
Lấy hiệu quả và giá trị thực chất làm thước đo
Bước chuyển biến căn bản của Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan trong 30 năm qua là chuyển dịch từ các hoạt động giao lưu thuần túy sang kết hợp chặt chẽ với xúc tiến kinh tế, thương mại và đầu tư. Hội đã phối hợp với Hội bạn tổ chức một số hoạt động kết nối doanh nghiệp Việt Nam - Thái Lan. Ví dụ, hai Hội đã phối hợp tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Thái Lan năm 2023 với chủ đề “1+1 = không biên giới” tại Bangkok, Thái Lan.
Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan chủ động huy động nguồn lực xã hội, kết hợp kinh phí Nhà nước hỗ trợ với sự đồng hành của doanh nghiệp, hội viên và đối tác. Điểm đáng quý là các nguồn lực xã hội hóa không chỉ góp phần duy trì hoạt động của Hội mà còn được chuyển hóa thành những giá trị cụ thể phục vụ cộng đồng. Tiêu biểu là việc Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan và Hội hữu nghị Thái Lan - Việt Nam phối hợp tổ chức khám và cấp kính thuốc cho 300 người cao tuổi ở Đồng Nai; trao tặng một máy siêu âm trị giá 22.800 USD cho Trung tâm Y tế Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Hai Hội cũng phối hợp trong Chương trình hợp tác bảo tồn sếu đầu đỏ. Đợt chuyển giao thứ hai gồm 6 cá thể sếu đầu đỏ từ Vườn thú Nakhon Ratchasima (Thái Lan) về Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp).
Đổi mới trong đối ngoại nhân dân không phải thay đổi mục tiêu mà là đổi mới cách tiếp cận, phương thức tổ chức, lấy hiệu quả và giá trị thực chất làm thước đo.


Nối dài mạch hữu nghị
Hội chúng tôi luôn xác định công tác xây dựng, phát triển tổ chức Hội và hội viên là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng, trong đó điều cốt lõi là phải xác định được lực lượng nào làm nòng cốt.
Nhận thấy lực lượng từng chiến đấu và công tác tại Campuchia trong những năm 1979-1989 hiện đang sống và làm việc trên khắp mọi miền của Tổ quốc chưa được tập hợp đầy đủ vào tổ chức Hội, năm 2012, Trung ương Hội đã đề ra chủ trương: “Lấy lực lượng cựu quân tình nguyện, cựu chuyên gia làm nòng cốt, đi đôi với phát triển từ các đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, doanh nghiệp, doanh nhân, cá nhân có nhiệt tình, có tâm huyết tham gia vào Hội, nhất là đối với lớp người trẻ tuổi”.
Chính vì vậy, Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia luôn mở rộng thành phần, nhất là phát triển lực lượng trẻ để tạo sức mạnh tổng hợp cho Hội. Đây là bài học về xây dựng, phát triển tổ chức Hội và hội viên mà đến nay Hội vẫn quán triệt trong các hoạt động của mình.
Đặc biệt, Hội đã tổ chức và thực hiện Chương trình “Ươm mầm hữu nghị” đỡ đầu lưu học sinh Campuchia đang học tập tại Việt Nam. Chương trình được triển khai liên tục từ năm 2012 đến nay, đã đỡ đầu gần 1.000 lưu học sinh Campuchia. Từ sức lan tỏa của chương trình, phía Campuchia đã thành lập Hội cựu học sinh đã từng học tập ở Việt Nam, qua đó tạo thêm một đối tác cho hoạt động hữu nghị của Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia và góp phần lan tỏa tình hữu nghị giữa hai nước tại Campuchia.
Mỗi hội viên là một “sứ giả hữu nghị”
Nếu nguồn lực trí tuệ là nền tảng nâng cao chất lượng hoạt động của Hội thì lực lượng cựu chuyên gia, cựu lưu học sinh và những người từng học tập, công tác tại Cuba chính là “tài sản đặc biệt” tạo nên sức sống bền vững của Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba.
Trong hơn sáu thập kỷ qua, hàng vạn cán bộ, sinh viên, chuyên gia Việt Nam đã có cơ hội học tập, nghiên cứu, công tác và sinh sống tại Cuba. Điều họ mang về không chỉ là kiến thức chuyên môn, trình độ nghề nghiệp hay những trải nghiệm quý báu, mà còn là tình cảm chân thành đối với đất nước và nhân dân Cuba - những người đã dành cho Việt Nam sự sẻ chia và giúp đỡ vô tư trong những năm tháng khó khăn nhất.
Trong thực tiễn hoạt động, Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba luôn xác định lực lượng cựu lưu học sinh, cựu chuyên gia là hạt nhân của phong trào hữu nghị. Họ không chỉ tham gia các hoạt động của Hội với tư cách hội viên mà còn là những người kể chuyện về Cuba bằng chính ký ức và trải nghiệm của mình; là những cầu nối tự nhiên góp phần đưa hình ảnh đất nước, con người Cuba đến gần hơn với các tầng lớp nhân dân Việt Nam.
Điều đáng quý là sức lan tỏa ấy không dừng lại trong phạm vi của Hội. Tình cảm dành cho Cuba được truyền từ mỗi hội viên đến gia đình, con cháu, bạn bè, đồng nghiệp và đối tác; từ những câu chuyện đời thường, những ký ức đẹp về đất nước Cuba đến những hành động cụ thể trong các hoạt động giao lưu, tuyên truyền và vận động ủng hộ nhân dân Cuba. Chính từ sự lan tỏa tự nhiên ấy mà mỗi hội viên của Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba không chỉ là người tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân mà còn trở thành một “sứ giả hữu nghị” trong cộng đồng.
Đó cũng là kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có ý nghĩa lâu dài đối với công tác đối ngoại nhân dân: sức mạnh của các tổ chức hữu nghị không chỉ đến từ số lượng hoạt động được tổ chức mà trước hết đến từ sức lan tỏa của mỗi hội viên trong cộng đồng.


Cảm và hiểu giá trị di sản qua trải nghiệm cộng đồng
Du lịch cộng đồng đặt người dân vào vị trí trung tâm, khuyến khích sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương trong việc tổ chức, vận hành và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Khi được kết hợp với các di tích lịch sử - văn hóa, du lịch cộng đồng tạo ra những trải nghiệm trực tiếp, giúp du khách cảm và hiểu sâu hơn về giá trị của di sản.
Nếu du lịch cộng đồng giúp “kích hoạt nội lực” thì giao lưu nhân dân chính là công cụ mở rộng “ngoại lực”. Trong bối cảnh hội nhập, giao lưu nhân dân không chỉ là một hoạt động đối ngoại mà còn là phương thức lan tỏa văn hóa hiệu quả.
Khi gắn du lịch cộng đồng với giao lưu nhân dân, du khách quốc tế không chỉ tham quan mà còn tham gia trực tiếp vào các hoạt động văn hóa - xã hội tại địa phương. Thông qua các mô hình homestay, làng văn hóa, các chương trình tình nguyện quốc tế, du khách có cơ hội sống cùng người dân, tham gia các hoạt động thường nhật và hiểu sâu hơn về đời sống, phong tục, tập quán của cộng đồng địa phương.













