8 vùng ảnh hưởng của bão và có nguy cơ gió mạnh, mưa lớn khi bão mạnh

17:02 | 26/12/2016

TĐO - Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa công bố kết quả phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão và phân vùng gió cho các vùng sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ. Theo đó có 8 vùng gồm: 5 vùng ven biển và 3 vùng nằm sâu trong đất liền.

Lãnh thổ Việt Nam có 8 vùng ảnh hưởng của bão

Toàn lãnh thổ Việt Nam, vùng ven biển và đảo ven bờ được phân thành 8 vùng ảnh hưởng của bão với các đặc trưng cụ thể của các vùng như sau:

Vùng 1: Đông Bắc (bao gồm các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Thải Nguyên, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 70 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Đông Bắc, trung bình từ 1,0 -1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VIII - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 546 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 100 - 150 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 10, giật cấp 12 - 13.

8 vung anh huong cua bao va co nguy co gio manh mua lon khi bao manh

Việt Nam có 8 vùng ảnh hưởng của bão và có nguy cơ gió mạnh, mưa lớn khi bão mạnh

Vùng 2: Tây Bắc (bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 26 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Tây Bắc, trung bình dưới 0,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VII - VIH - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 336 ram. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 50 - 100 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 9, giật cấp 12 - 13.

Vùng 3: Quảng Ninh đến Thanh Hóa (bao gồm các tỉnh thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ và các tỉnh ven biển từ Ouảng Ninh đến Thanh Hóa).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 116 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 2,0 - 2,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VII - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 701 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 14, giật cấp 15 - 16. Riêng dải ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng, cấp gió mạnh nhất đã xảy ra cấp 15, giật cấp 17. Tổng lượng mưa quan trắc trung bình một đợt bão từ 150 - 200mm. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 502mm.

Vùng 4: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế (bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Ouảng Bình, Ouảng Trị, Thừa Thiên Huế)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 93 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 1,5 - 2,0 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VIII - IX - X. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 978 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 200 - 300 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 14, giật cấp 15 - 16.

Vùng 5: Đà Nẵng đến Bình Định (bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nang, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 66 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 1,0 - 1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng IX – X-XI. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 593 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 13, giật cấp 14 - 15.

Vùng 6: Phú Yên đến Ninh Thuận (bao gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 48 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 0,5 -1,0 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X – XI- XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 628 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 13, giật cấp 14 - 15.

Vùng 7: Tây Nguyên (bao gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 58 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Tây Nguyên, trung bình từ 1,0 - 1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X - XI - XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 443 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 100 - 150 mm. Cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 9, giật cấp 10- 11.

Vùng 8: Bình Thuận đến Cà Mau - Kiên Giang (bao gồm các tỉnh Nam Bộ và các tỉnh ven biển từ Bình Thuận đến Cà Mau - Kiên Giang).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 23 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình có dưới 0,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X - XI - XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 273 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 50 - 100 mm. Cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 10, giật cấp 12 -13.

8 vùng có nguy cơ gió mạnh, mưa lớn khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ

Vùng 1: Đông Bắc. Gió trong bão có thể đạt cấp 11 - 12, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 550 - 600 mm.

Vùng 2: Tây Bắc. Gió trong bão có thể đạt cấp 10-11, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 350 - 400 mm.

Vùng 3: Quảng Ninh đến Thanh Hóa. Gió trong bão có thể đạt cấp 15 - 16, giật trên cấp 17. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 700 - 750 mm. Riêng tại khu vực ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng, gió trong bão có thể đạt cấp 16, giật trên cấp 17, tại các đảo như Bạch Long Vĩ, Cô Tô,... nguy cơ cấp gió bão và gió giật trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp.

Vùng 4: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế. Gió trong bão có thể đạt cấp 15-16, giật trên cấp 17. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 1000 - 1050 mm. Tại các đảo ven bờ như cồn cỏ, Hòn Ngư, gió trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp. Tại khu vực vùng núi phía Tây của Nghệ An, Hà Tĩnh, gió bão thấp hơn khu vực ven biển do cường độ bão đã suy yếu sau khi di chuyển vào sâu trong đất liền.

Vùng 5: Đà Nẵng đến Bình Định. Gió trong bão có thể đạt cấp 14-15, giật trên cấp 16. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 650 - 700 mm.

Vùng 6: Phú Yên đến Ninh Thuận. Gió trong bão có thể đạt cấp 14 - 15, giật trên cấp 16. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 650 - 700 mm.

Vùng 7: Tây Nguyên. Gió trong bão có thể đạt cấp 10 - 11, giật trên cấp 12. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 450 - 500 mm.

Vùng 8: Bình Thuận đến Cà Mau, Kiên Giang. Gió trong bão có thể đạt cấp 11 - 12, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất có thể đạt từ 300 - 350 mm. Đối với các đảo ven bờ như Phú Quý, Côn Đảo nguy cơ cấp gió bão và gió giật trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp.

5 vùng có nguy cơ nước dâng do bão tại dải ven biển Việt Nam

Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra tại khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh (4,5 m), khu vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa (3,5 m), khu vực Bình Thuận đến Bà Rịa Vũng Tàu và Mũi Cà Mau đến Kiên Giang có nước dâng do bão thấp nhất (1,2 m). Trong tương lai, khi có siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến 5,0 mét tại khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh.

Nhận định nguy cơ nước dâng do bão cho các vùng ven biển Việt Nam được đưa ra như sau:

Vùng 1: Quảng Ninh đến Thanh Hóa. Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 3,5 m, trong tương lai, khi có bão manh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến 4,9 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,7 - 2,0 m.

Vùng 2: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế. Từ Nghệ An đến Hà Tĩnh: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 4,5 m, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 5,0 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,2 - 1,7 m. Từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 3,9 m, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 4,2 m. Biên độ thủy triều dao động từ 0,5 -1,2 m.

Vùng 3: Đà Nẵng đến Bình Định. Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra tới 1,8 m, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,3 m. Biên độ thủy triều dao động từ 1,0 -1,2 m;

Vùng 4: Phú Yên đến Ninh Thuận. Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,7 m, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,2 m. Biên độ thủy triều dao động từ 1,2 - 1, 4 m.

Vùng 5: Bình Thuận đến Cà Mau, Kiên Giang. Từ Bình Thuận đến Bà Rịa Vũng Tàu: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,2 m, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,0 m. Biên độ thủy triều dao động từ 1,4 - 1,8. Từ TP.Hồ Chí Minh đến mũi Cà Mau: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 2,0 m, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,7 m. Biên độ thủy triều dao động từ 1,8 - 2,0 m. Từ mũi Cà Mau đến Kiên Giang: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,2 m, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,1 m. Biên độ thủy triều trong khu vực này dao động trong khoảng từ 0,8-1,1 m.

Minh Hà

Đường dẫn bài viết: https://thoidai.com.vn/8-vung-anh-huong-cua-bao-va-co-nguy-co-gio-manh-mua-lon-khi-bao-manh-65480.html

In bài viết