08:28 | 27/04/2016
|
Hội nghị bàn về các nội dung: Tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm, cho ý kiến Dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng về bảo đảm an toàn thực phẩm; việc triển khai Chương trình phối hợp giữa Chính phủ và Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động và giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm giai đoạn 2016-2020.
Thành phần dự hội nghị tại điểm cầu Trụ sở Chính phủ có: Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN; các bộ: Y tế, NT&PTNT, Công Thương, Công an, Quốc phòng, Tài chính, TN&MT, TT&TT, VHTT&DL, KHCN, KH&ĐT, Nội vụ; Ban Chỉ đạo 389, Tổng cục Hải quan; thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về ATTP; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát; Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,...
Thành phần dự hội nghị tại điểm cầu các địa phương gồm có: Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy; Chủ tịch UBND và Phó Chủ tịch UBND phụ trách lĩnh vực VSATTP; lãnh đạo các sở: Y tế, NN&PTNT, Tài chính, Công Thương, Công an; các thành viên khác của Ban Chỉ đạo ATTP tỉnh; lãnh đạo một số quạn, huyện trọng điểm về ATTP.
Thay đổi cách tiếp cận để tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý ATTP
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí Bí thư, Chủ tịch 63 địa phương họp cùng các thành viên Chính phủ đề bàn về vấn đề nhân dân xã hội đặc biệt quan tâm và Nhà nước chưa làm tròn trách nhiệm bảo đảm ATTP cho nhân dân và người tiêu dùng.
Để bảo đảm ATTP đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể, nhất là trách nhiệm của người sản xuất; trách nhiệm của người đứng đầu của các địa phương… Đặc biệt là trách nhiệm giám sát của các cấp, ngành, cơ quan dân cử để tạo ra sự chuyển biến đồng bộ trong bảo đảm VSATTP.
Thực phẩm bẩn địa phương không thể ngoài cuộc.
Thủ tướng yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong quản lý, nêu rõ những bất cập, đề ra những giải pháp cụ thể, lựa chọn các loại thực phẩm cụ thể nhất là thực phẩm tươi sống - gắn bó thường nhật với đời sống người dân để tập trung giám sát,... nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét về quản lý ATTP.
Thủ tướng nhấn mạnh các ý kiến thảo luận phải tập trung đề ra cơ chế, giải pháp, cách làm tháo gỡ vướng mắc, cách làm tốt nhất, rõ nét nhất để thực hiện công tác đảm bảo ATTP.
Các cơ quan chức năng như Công an, thanh tra, quản lý thị trường phải thanh tra, kiểm tra mạnh mẽ hơn từ xử lý hành chính đến hình sự để răn đe các cá nhân, tổ chức vi phạm về ATTP, bảo vệ quyền lợi sức khỏe của người dân.
Nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm
Báo cáo tóm tắt về tình hình và những giải pháp chính nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm của Văn phòng Chính phủ nêu rõ: Vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề liên quan trực tiếp đến sản xuất và đời sống nên luôn được nhân dân đặc biệt quan tâm.
Trong thời gian qua, các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong quản lý, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đạt được những kết quả nhất định; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cơ bản đầy đủ, trách nhiệm quản lý của các bộ, ngành, địa phương được phân định rõ ràng, nhiều vụ việc vi phạm lớn đã được phát hiện, xử lý.
Tuy nhiên, tình hình an toàn thực phẩm vẫn diễn biến phức tạp, gây nhiều bức xúc trong nhân dân, cần được tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn nữa.
Vấn đề nổi lên hiện nay là việc tổ chức thực hiện trong cả nước chưa tốt, chưa nghiêm minh, kết quả còn hạn chế.
Qua báo cáo của các bộ, ngành cho thấy hiện nay trên cả nước còn nhiếu hạn chế, bất cập trong công tác bảo đảm ATTP, nổi lên là:
Thứ nhất, khâu tổ chức thực hiện bảo đảm ATTP còn nhiều hạn chế. Một số địa phương chưa quan tâm và thiếu tập trung trong quản lý ATTP, chậm phát hiện và không kịp thời xử lý các vụ việc vi phạm ngay trên địa bàn mình quản lý, hầu hết các vụ vi phạm là do báo chí và các cơ quan chức năng của trung ương phát hiện; rất ít vụ vi phạm do địa phương phát hiện. Nhiều ban chỉ đạo liên ngành về ATTP tại địa phương (được tổ chức tại cấp tỉnh, cấp huyện) hoạt động chưa hiệu quả. Một bộ phận cán bộ, công chức nhận thức chưa đầy đủ về trách nhiệm quản lý ATTP. Nguồn lực ở một số địa phương cho công tác này còn hạn chế.
Thứ hai, việc ban hành các văn bản dưới luật, nhất là thông tư hướng dẫn thi hành luật trong những năm đầu còn chậm.
Thứ ba, chưa có cơ chế tài chính phù hợp giải quyết kinh phí, ngay cả kinh phí kiểm nghiệm thực phẩm, xử lý, tiêu hủy thực phẩm không an toàn. Lực lượng kiểm tra còn hạn chế về số lượng và chất lượng, thiếu nhiều trang thiết bị kỹ thuật, các phòng kiểm nghiệm chưa phát triển phương pháp kiểm nghiệm theo kịp nhu cầu (như kiểm nghiệm vàng ô trong măng, chất nhuộm màu ruốc…).
Thứ tư, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa vi phạm. Việc xử lý vi phạm chưa nghiêm minh, chưa chú ý xem xét xử lý trách nhiệm của cán bộ, công chức.
Thứ năm, chưa phát huy được vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, công luận và người dân tham gia giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm và đấu tranh với các hành vi vi phạm, nhất là tại cơ sở.
Thứ sáu, công tác truyền thông về thực phẩm an toàn và không an toàn còn hạn chế. Chưa có hình thức tuyên truyền theo các ngạch của hệ thống chính trị (như trong tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…) nên chưa sâu sát đến được các hội viên, đoàn viên, cá nhân, các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, trang trại…
Trong tuyên truyền còn nặng về các nội dung tiêu cực, chưa có nhiều thông tin về thực phẩm an toàn dẫn đến tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân, thậm chí làm ảnh hưởng đến xuất khẩu và chưa kết nối được thực phẩm an toàn với người tiêu dùng; chưa có nhiều hỗ trợ cho người tiêu dùng phân biệt đâu là thực phẩm an toàn, không an toàn; chưa tạo được động lực khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn.
Thứ bảy, hiện tại, vẫn còn rất nhiều vấn đề nổi cộm cần được quan tâm xử lý để giải quyết dứt điểm như vấn đề sử dụng sabutamol, vàng ô, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, quản lý tại các chợ, nhập khẩu rượu giả, kinh doanh thực phẩm chức năng.
Bên cạnh đó, còn nhiều cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm vệ sinh ATTP trong các khâu sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đến khâu bảo quản, sơ chế, chế biến đặc biệt tại cơ sở giết mổ, sơ chế nội tạng, cơ sở chế biến mỡ động vật rất mất vệ sinh...
Dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, hội nghị sẽ tiến hành bàn thảo, đưa ra những giải pháp chính để nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm trong thời gian tới.
| Qua đợt cao điểm ATTP (10/2015 – 2/2016) cho thấy mức độ tồn dư các chất độc hại, chất cấm trong nhiều loại thực phẩm đã có mức giảm đáng kể: - Dư lượng dư lượng thuốc BVTV trong rau là 5,17% (năm 2014 là 5,43%, 9 tháng đầu 2015 là 10,3%) - Thịt vi phạm chỉ tiêu chất cấm, kháng sinh vượt giới hạn là 1,91% (năm 2014 là 6,84%, 9 tháng đầu năm 2015 là 4%); Tuy nhiên, cũng có những sản phẩm vi phạm với tỷ lệ cao hơn như thủy sản: vi phạm các chỉ tiêu về hóa chất, kháng sinh cấm và vượt giới hạn là 7,27% (2014 là 1,21%, 9 tháng đầu năm 2015 là 1,01%). Trong năm 2015, 20.641 đoàn thanh tra liên ngành tiến hành kiểm tra tại 344.657 cơ sở, phát hiện 77.946 cơ sở vi phạm, chiếm 22,6% (năm 2014 là 21,3%). Trong quý I/2016, kiểm tra tại 109.195 cơ sở, phát hiện 20.572 cơ sở vi phạm, chiếm 18,8% (quý I/2015 là 20,4%). Đối với nước uống đóng chai: Năm 2014, kiểm tra 5.645 cơ sở (chiếm 38,0%), đã phát hiện 1.191 cơ sở vi phạm (21,1%); kiểm nghiệm mẫu nước uống đóng chai 87/1.062 (8,2%) số mẫu không đạt yêu cầu về chỉ tiêu vi sinh vật, 20/386 (5,2%) số mẫu không đạt yêu cầu về các chỉ tiêu lý, hóa. Đối với sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa: Năm 2014, kiểm tra tại 990 cơ sở phát hiện 230 cơ sở vi phạm. Đối với bếp ăn tập thể: Năm 2014, kiểm tra 119.024 cơ sở (chiếm 72,1% trên tổng số cơ sở có trên địa bàn toàn quốc), đã phát hiện 29.327 cơ sở vi phạm (24,6%); đã đình chỉ hoạt động 56 cơ sở; tiêu hủy sản phẩm của 620 cơ sở với 562 loại sản phẩm; chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xử lý 13 trường hợp. Đối với phụ gia thực phẩm, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm: Năm 2014 kiểm tra 12.340 cơ sở, phát hiện 3.055 cơ sở vi phạm. Đối với thực phẩm chức năng: Năm 2014, kiểm tra 4.514 cơ sở được phát hiện 1.974 cơ sở vi phạm (chiếm 43,7%). |
Theo Chinhphu.vn