05:23 | 06/08/2018
350 văn bản KTCN phát hiện 1% sai phạm
Tại Hội nghị về tạo thuận lợi thương mại mới đây, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã thẳng thắn đặt vấn đề: Phải chăng kiểm tra chuyên ngành (KTCN) là thủ tục để "hành" doanh nghiệp (DN), chứ không phải là mục tiêu chống gian lận thương mại?
Vấn đề Phó Thủ tướng đặt ra đã tạo thành một cuộc tranh luận khá sôi nổi. Vì thực tế trong lĩnh vực KTCN, số lượng hàng hóa phải kiểm tra vẫn chiếm tỉ trọng lớn, hiệu lực KTCN thấp, tỉ lệ phát hiện sai phạm thấp (tính tới cuối năm 2017 là dưới 1%). Vậy, nhiều văn bản như thế để làm gì? 350 văn bản nhưng phát hiện sai phạm có 1% thì có đáng không?
|
Ảnh chỉ có tính chất minh họa. Ảnh thanhnien.
Cũng tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phải thừa nhận, kết quả KTCN thời gian qua chưa như mong đợi, số lượng hàng hóa phải KTCN còn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2017, số tờ khai nhập khẩu thuộc diện quản lý và KTCN so với tổng số lô hàng nhập khẩu làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu chiếm 19,4%.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, KTCN thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro, chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu...nên hiệu quả thấp. Đã vậy, lại còn cho quá nhiều loại hàng hóa vào KTCN như vậy, có phải là “làm khó” cho nhiều bên liên quan không? Trong khi kiểm tra thủ công, rồi thì văn bản chồng chéo… sao Bộ Tài chính không đề xuất giải pháp cho vấn đề này để tạo sự thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động?
Văn bản KTCN chồng chéo
TS.Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) phân tích trên VOV: Hiện có khoảng 350 văn bản liên quan tới KTCN, trong đó ngành nông nghiệp nhiều nhất với khoảng 100 văn bản.
Việc cắt giảm danh mục hàng hóa trong diện KTCN có khi chỉ được thực hiện với nhóm có ít mặt hàng, còn nhóm có nhiều mặt hàng thì lại không được cắt giảm. Nhiều bộ, ngành cùng quản lý một mặt hàng, thậm chí trong một bộ lại có tới 2-3 cục cùng quản lý một mặt hàng gây lên sự chồng chéo trong chính nội tại, khó khăn trong kiểm tra và dễ thoái thác trách khi xảy ra sự cố ngoài mong muốn..
Còn số liệu của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thì, Bộ NN&PTNT có 7.698 dòng hàng thuộc 251 nhóm sản phẩm hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, bao gồm: Hàng hóa thuộc diện kiểm dịch 53 nhóm sản phẩm; Hàng hóa thuộc diện kiểm tra chất lượng 104 nhóm sản phẩm; Hàng hóa phải kiểm tra an toàn thực phẩm 94 nhóm sản phẩm.
Tạo cơ chế DN là đối tác
Vậy, các DN phản ứng như thế nào? Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP), kiến nghị các bộ, ngành nên xem DN là đối tác hơn là đối tượng.
Ông Nam đưa ra lý do coi DN là đối tác vì như vậy, DN sẽ chủ động tham gia trong ban soạn thảo góp ý khi được mời. Cơ quan chức năng coi DN là đối tác hơn là đối tượng để cùng chung tay thực hiện mục tiêu của Chính phủ.
Ai cũng biết, khi kêu gọi DN đầu tư vào lĩnh vực nào đó, chúng ta, các văn bản, đều khẳng định DN là đối tác. Thế nhưng, khi DN vào hoạt động rồi, chẳng hiểu sao, họ trở thành đối tượng bất đắc dĩ bị giám sát, mà có kiến nghị thì các cơ quan chức năng giải quyết rất chậm, thậm chí vòng vo, gây ảnh hưởng đến DN.
Trong thời đại nền kinh tế 4.0, sự vận động phát triển của kinh tế, xã hội, đời sống, việc coi DN là đối tác hợp tác cũng cần xem xét và có cơ chế rõ ràng.
N.Hòa