14:38 | 26/03/2018
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước thể hiện: Hiện có 1.178 quỹ tín dụng nhân dân, hoạt động ở 57 tỉnh, thành với tổng tài sản hơn 100.000 tỷ đồng. Thực tế, quỹ tín dụng nhân dân đang là mô hình có tỷ suất sinh lời tốt. Trong các năm từ 2007 đến 2015, Ngân hàng Nhà nước xác nhận, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ (ROE) của các quỹ tín dụng luôn cao hơn bình quân toàn ngành, lần lượt đạt 0,49% và 5,49%.
Tỷ suất sinh lời tốt, hoạt động nhộn nhịp, thế nhưng mô hình quỹ tín dụng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro cho khách hàng gửi tiền. Trong khi đó, sự ràng buộc trách nhiệm đối với giám đốc quỹ lại chưa thể hiện rõ, làm ảnh hưởng tới hoạt động tiền tệ chung trong hệ thống. Giám đốc quỹ tín dụng bỏ trốn, Ngân hàng Nhà nước đã phải đứng ra đảm bảo tiền gửi cho khách hàng – tức người dân tham gia quỹ. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BTC hướng dẫn một số điều về chế độ tài chính đối với quỹ tín dụng nhân dân.
Hàng loạt quỹ tín dụng “đổ bể”
Vụ việc Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân tỉnh Đồng Nai lợi dụng danh nghĩa quỹ, huy động vốn trái quy định, cho vay trái thẩm quyền, hậu quả, không thu hồi được vốn của quỹ phải bỏ trốn là vụ việc mới nhất liên quan đến hệ thống quỹ này. Hàng nghìn gia đình đã nháo nhác, sợ hãi, bất an thậm chí là hoang mang khi không thể biết được rằng, số tiền mình gửi vào quỹ tín dụng sẽ như thế nào?
Khách hàng tìm đến chính quyền địa phương, cơ quan công an để cầu cứu, đề nghị được giúp đỡ để hy vọng lấy lại vốn (là tốt). Thế nhưng, những địa chỉ mà khách hàng cầu cứu, “nhờ vả” đó lại không đủ khả năng để giải quyết những vấn đề mà họ đưa ra, ngoài việc xác định nhân thân, xem xét các yếu tố pháp lý và đề xuất Ngân hàng Nhà nước tại địa phương giúp đỡ.
|
Ảnh minh họa!
Trước đó không lâu, người dân tỉnh Thanh Hóa cũng được phen khốn đốn vì hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân ở một số địa phương bị “vỡ”. Giám đốc quỹ đã dùng tiền mà khách hàng gửi, cho vay lấy lãi suất cao hơn. Nhiều chủ nợ của quỹ đã không đủ khả năng chi trả dẫn tới quỹ bị “đổ bể”. Rồi thì mượn uy tín quỹ, huy động và cho vay trái quy định, dùng tiền cho mục đích cá nhân, sau đó vướng vào vòng lao lý. Nhiều khách hàng, trong đó có những cụ bà, cụ ông đã thượng thọ, gom góp được chút tiền, gửi ngân hàng, rút về gửi quỹ để rồi… đã không có lãi hàng tháng lại còn “mất hút” luôn cả vốn…
Chính những vụ việc “cộm cán” xảy ra đã khiến Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan tham mưu cho Chính phủ phải xem xét lại các quy định, chế tài đối với quỹ tín dụng nhân dân.
“Ràng buộc” giám đốc quỹ
Ở nhiều vùng nông thôn, quỹ tín dụng nhân dân luôn là hoạt động tín dụng uy tín và có sức hút đối với người dân. Khách hàng nông thôn cho rằng: Quỹ tín dụng nhân dân do Nhà nước lập ra nên Giám đốc quỹ không dám “bùng”. Nếu “bùng” thì sẽ bị pháp luật trừng trị.
Hơn nữa, lãi suất gửi quỹ tín dụng nhân dân ở một số địa phương cao hơn là gửi ngân hàng thương mại nên vẫn hút được lượng khách hàng lớn. Chính vì hút được lượng khách hàng lớn nên theo nhiều chuyên gia, vẫn không thể phủ nhận đây là mô hình huy động và cho vay hiệu quả nhất trong khu vực nông thôn hiện nay, dẫn vốn tốt cho những khách hàng vốn rất khó vay được ngân hàng. Điều này, chúng ta không thể phủ nhận.
Chính vì thế mà Thông tư 20 của Bộ Tài chính về hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, có hiệu lực từ ngày 29/3, quy định quỹ tín dụng nhân dân được mua, đầu tư vào tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ ghi trên sổ sách kế toán của quỹ tín dụng nhân dân.
Theo đó, vốn chủ sở hữu của quỹ tín dụng nhân dân gồm: Vốn điều lệ; chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản theo quyết định của Nhà nước hoặc các trường hợp đánh giá lại tài sản khác theo quy định của pháp luật; các quỹ; lợi nhuận lũy kế chưa phân phối; lỗ lũy kế chưa xử lý và vốn khác thuộc sở hữu của quỹ tín dụng nhân dân.
Thông tư quy định các khoản thu của quỹ tín dụng nhân dân phải được xác định phù hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan, có hóa đơn hoặc chứng từ hợp lệ và phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm các khoản thu sau: Thu từ lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động góp vốn tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam và thu từ các hoạt động khác, các khoản thu khác như các khoản nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro, thu từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu từ việc chuyển nhượng, thanh lý tài sản,...
Thông tư cũng quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan quản lý và quỹ tín dụng nhân dân, theo đó, định kỳ 6 tháng (trước ngày 31/7) và hàng năm (trước ngày 31/3 năm kế tiếp) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính tình hình tài chính của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo quy định.
Hà Trang