09:00 | 11/05/2016
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định 768/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
|
Xây dựng vùng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn 2050 phát triển thịnh vượng và có hệ thống giao thông hiện đại. (Ảnh minh họa)
Vùng Thủ đô sẽ có thêm 3 tỉnh mới
Phạm vi quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội gồm toàn bộ ranh giới của Thủ đô Hà Nội và 9 tỉnh xung quanh là Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang (trong đó Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang là 3 tỉnh được mở rộng so với Quyết định số 490/2008/QĐ-TTg ngày 5/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ).
Thủ đô Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh, là các địa phương có tốc độ và tỉ lệ đô thị hóa cao; có vị trí trung tâm của toàn Vùng trên cơ sở vị thế của Thủ đô Hà Nội với các vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của quốc gia, trong đó nổi bật là các thế mạnh về công nghiệp, đào tạo, nguồn nhân lực và các điều kiện hạ tầng; các chức năng cấp vùng, quốc gia và quốc tế được tăng cường thông qua việc thiết lập các trung tâm tài chính - thương mại, nghiên cứu – phát minh khoa học, hội nghị hội thảo, thể dục thể thao, không gian di sản và du lịch quốc tế…
Trong đó, Hà Nội với vị thế Thủ đô, trung tâm đầu não chính trị, hành chính của quốc gia; là trung tâm văn hóa, giáo dục đào tạo và khoa học kỹ thuật quan trọng của cả nước; là một trong những trung tâm kinh tế, du lịch, thương mại, dịch vụ của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Phát huy vai trò là trung tâm động lực chính, đầu mối liên kết quản lý, kinh doanh, nghiên cứu và phát triển kinh tế – xã hội, tập trung hình thành các trung tâm thương mại tài chính lớn của quốc gia (Trung tâm tài chính Bắc Sông Hồng; Trung tâm hội chợ; Trung tâm hành chính, thương mại, văn hóa Tây Hồ Tây…), các khu nghiên cứu – đào tạo công nghệ cao (Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc…); Trung tâm văn hoá - lịch sử lớn (Hoàng Thành Thăng Long; Vườn Quốc gia Ba Vì…); đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa của Thủ đô khoảng từ 65 – 70%.
Mặt khác, sẽ tập trung phát triển các đô thị, tỉnh lỵ và các đô thị chuyên ngành có vai trò tạo động lực trong Vùng trên cơ sở tăng cường sự liên kết và khai thác hiệu quả hệ thống đường vành đai 4, vành đai 5; các trục, hành lang kinh tế như Lào Cai – Hà Nội – Quảng Ninh, Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Lạng Sơn – Bắc Giang – Hà Nội, Hà Nội – Hà Nam, Hà Nội – Thái Nguyên.
Xây dựng nhiều tuyến cao tốc mới
Tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng giao thông hiện có, phát huy tối đa về lợi thê địa lý của vùng, tập trung cải tạo nâng cấp kết hợp xây dựng mới mạng lưới giao thông hiện đại, đồng bộ; phát triển đa dạng các loại hình vận tải, kết nối liên thông giữa các phương thức vận tải (đường thủy, đường bộ, đường sắt và đường hàng không); phát triển các loại hình giao thông mới, hiện đại; phát triển hệ thống giao thông công cộng đa dạng phù họp với các đô thị.
Đường bộ
Đường cao tốc: Hoàn thiện mạng lưới đường cao tốc hướng tâm và vành đai. Ưu tiên các hành lang kinh tế lớn: Lào Cai – Hà Nội – Quảng Ninh; Lạng Sơn – Hà Nội – Vinh.
Các tuyến cao tốc tiếp tục hoàn thiện: Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội – Thái Nguyên – Chợ Mói (Bắc Kạn); Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long (Quảng Ninh); Hà Nội – Hòa Bình.
Các tuyến xây dựng mới:
Đường cao tốc Hà Nội – Thái Bình, là tuyến nối TP. Hà Nội với khu vực duyên hải Bắc Bộ; Kéo dài các tuyến cao tốc hướng tâm đi Bắc Kạn, Quảng Ninh, Lạng Sơn; Đường cao tốc Tây Bắc – Hải Phòng từ giao cao tốc Hà Nội - Hải Phòng tại Hưng Yên đi Tây Bắc; Đường cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình và kéo dài đến giao đường cao tốc Tây Bắc – Hải Phòng; Đường cao tốc thuộc tuyến đường Hồ Chí Minh từ Chợ Ben – Mỹ Đức đến thị xã Phú Thọ.
Hoàn thiện, khép kín đường vành đai 3 tại trung tâm TP. Hà Nội. Đường cao tốc vành đai 4 giới hạn và hướng luồng giao thông quá cảnh không đi xuyên qua trung tâm thành phố Hà Nội.
Đường vành đai 5 kết nổi các đô thị đối trọng theo tiêu chuẩn đường cao tốc (từ Sơn Tây đi Phủ Lý tuyến đi trùng đường Hồ Chí Minh giai đoạn 2, qua Phủ Lý đến Thái Bình, Hải Dương và giao đường cao tốc Hà Nội – Hạ Long), đường ô tô cấp II (đoạn qua Bắc Giang, Thái Nguyên), đường ô tô cấp I (từ nút giao với đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên đến Vĩnh Phúc, Sơn Tây).
Đường sắt
Đường sắt quốc gia: Nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có, đảm bảo tốc độ chạy tàu bình quân 80 - 90 km/h đối với tàu khách và 50 – 60km/h đôi với tàu hàng, ưu tiên các tuyến: Tuyến Bắc Nam; tuyến Hà Nội – Hải Phòng; tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hạ Long; tuyến Hà Nội – Thái Nguyên; tuyến Hà Nội – Lạng Sơn.
Đường sắt nội vùng: Xây dựng mới kết họp nâng cấp một số tuyến đường săt quôc gia tạo thành mạng lưới đường săt nội vùng với 8 tuyên vận tải hành khách, kết nối trung tâm thành phố Hà Nội đến các thành phố trung tâm các tỉnh trong bán kính 60 – 80km. Quy mô đường sắt đôi, điện khí hóa khổ 1435mm, tốc độ thiết kế 120 – 150 km/h. Sử dụng kết họp đường sắt quốc gia vận tải hành khách nội vùng theo các hướng Lào Cai, Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nam.
Đường hàng không
Xây dựng nâng cấp cảng hàng không, sân bay quốc tế Nội Bài thành cảng hàng không lớn, hiện đại khu vực phía Bắc: Năm 2020 đạt 20 – 25 triệu hàn khách/năm. Sau năm 2020, nâng cấp mở rộng sân bay đảm bảo khả năng tiếp nhận lên tới 50 triệu hành khách/năm.
Cải tạo nâng câp cảng hàng không, sân bay Gia Lâm nhằm phục vụ hành khách nội địa, công suất dự kiến năm 2030 khoảng 0,3 – 0,5 triệu hành khách/năm.
Sân bay quốc tế Cát Bi – TP. Hải Phòng đóng vai trò dự phòng cho sân bay quốc tế Nội Bài…