00:00 | 08/03/2026
Một cú trượt chân trên giàn giáo, một phút bất cẩn bên dây chuyền máy móc hay nhiều năm âm thầm làm việc trong môi trường độc hại có thể khiến người lao động đánh đổi bằng sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Đằng sau mỗi vụ tai nạn lao động không chỉ là con số thống kê, mà là những gia đình mất đi trụ cột, những đứa trẻ mất đi điểm tựa và những doanh nghiệp phải trả giá bằng cả uy tín.
Trong bối cảnh đó, bảo hiểm TNLĐ-BNN có vai trò ngày càng quan trọng trong việc bảo vệ người lao động trước rủi ro của cuộc mưu sinh. Điều này thể hiện rõ nét qua việc nhiều trường hợp bị TNLĐ đã được hỗ trợ kịp thời, phần nào giảm bớt gánh nặng điều trị.
Ví dụ điển hình là trường hợp anh M.C.H tại Gia Lai - một nhân viên điện lực, bị tai nạn lao động vào năm 2023 với mức suy giảm khả năng lao động tới 37%. Sau đó, anh H được trợ cấp hằng tháng bằng 30% lương cơ sở từ tháng 5/2023 đến nay.
Nhưng ngược lại, chị L.T.V tại Hưng Yên, năm 2022, chị không may bị TNLĐ khi làm việc tại trong một công trường xây dựng, khiến sức khoẻ suy giảm trầm trọng, gần như mất đi khả năng lao động nặng. Đây là cú sốc lớn với gia đình chị V bởi kinh tế khó khăn, lại phải nuôi 2 con ăn học. Tuy nhiên, do không có hợp đồng lao động, không được đóng bảo hiểm, nên khi tai nạn xảy ra, ngoài khoản thăm hỏi, hỗ trợ phần nhỏ viện phí của chủ sử dụng lao động thì chị không có bất kỳ một khoản phúc lợi xã hội nào.
![]() |
| Khi thực hiện đầy đủ chính sách bảo hiểm TNLĐ-BNN thì doanh nghiệp có điều kiện vượt trội để thu hút lao động. |
Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động năm, Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là quỹ thành phần của hệ thống bảo hiểm xã hội, được xây dựng nhằm hỗ trợ người lao động khi gặp rủi ro trong quá trình làm việc.
Theo chính sách này, người lao động suy giảm từ 5 - 30% khả năng lao động được hưởng trợ cấp một lần, từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng. Trường hợp suy giảm từ 81% trở lên và thuộc diện đặc biệt còn được hưởng thêm trợ cấp phục vụ. Không chỉ dừng ở việc chi trả trợ cấp, chính sách này còn bao gồm hỗ trợ giám định thương tật, phục hồi chức năng lao động, dưỡng sức sau điều trị và nhiều chế độ liên quan khác.
Có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại, khi các tiêu chuẩn về lao động bền vững và trách nhiệm xã hội trở thành “tấm vé thông hành” trong chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp không thể chỉ chạy theo năng suất mà bỏ quên an toàn lao động. Nói cách khác, đầu tư cho an toàn lao động và bảo hiểm không còn là câu chuyện “đối phó quy định”, mà là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại lâu dài.
Dù hệ thống pháp luật về an toàn lao động ngày càng hoàn thiện, thực tế vẫn tồn tại không ít hạn chế trong quá trình thực thi.
Cụ thể, nhiều doanh nghiệp nhỏ và khu vực phi chính thức vẫn xem bảo hiểm TNLĐ là khoản chi phí phụ thêm thay vì trách nhiệm bắt buộc. Tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm hoặc cắt giảm quy trình an toàn để tiết kiệm chi phí vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Trong khi đó, không ít người lao động chưa hiểu đầy đủ quyền lợi của mình. Khi xảy ra tai nạn, họ lúng túng trong việc xác định trách nhiệm, thủ tục giám định và tiếp cận chế độ hỗ trợ.
Đáng lo ngại hơn, bệnh nghề nghiệp thường diễn biến âm thầm trong nhiều năm. Những căn bệnh liên quan đến bụi phổi, hóa chất độc hại, tiếng ồn hay áp lực tâm lý nghề nghiệp nhiều khi chỉ được phát hiện khi đã ở giai đoạn nặng. Điều đó khiến việc xác định nguyên nhân, trách nhiệm và chi trả bảo hiểm trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động khi tiếp cận với chế độ nhưng lại là thách thức cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện cơ sở dữ liệu giữa các bộ, ngành chưa được chia sẻ đầy đủ.
Do đó, để hoàn thiện chính sách pháp luật về chế độ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật An toàn, vệ sinh lao động để hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tháo gỡ các nội dung vướng mắc trong tổ chức thực hiện cũng như đồng nhất với các luật có liên quan như: Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)...
Song song đó, bổ sung các chế tài xử phạt đối với các đơn vị vi phạm về thực thi Luật An toàn, vệ sinh lao động; các cơ quan chia sẻ dữ liệu về lao động và dữ liệu về khám bệnh, chữa bệnh để kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tạo thuận lợi trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội nói chung.
Đặc biệt, cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ-BNN; kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm trong thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm TNLĐ-BNN tại địa phương, chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp và công khai tình trạng trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp.
Ở góc độ khác, người lao động cũng cần tìm hiểu và tuân thủ các quy định về an toàn lao động để đảm bảo quyền lợi cho chính mình.
Có thể thấy, trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng phát triển và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo hiểm TNLĐ-BNN, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi và mở rộng diện bao phủ đang là yêu cầu cấp thiết và có vai trò vô cùng quan trọng.
| Theo đánh giá của một số tổ chức phi chính phủ, trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng mở rộng, đi kèm với đó là những rủi ro tiềm ẩn về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN), chính sách bảo hiểm TNLĐ-BNN đang dần khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. |
| Chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) đang ngày càng khẳng định vai trò như một bệ đỡ an sinh quan trọng, vừa bảo vệ người lao động, vừa góp phần ổn định thị trường lao động. |
PV