21:44 | 26/02/2026
An Khê – Tách phốt pho từ điều kiện tự nhiên
Hành trình nghiên cứu bắt đầu từ vùng Tây Sơn Thượng Đạo, nay thuộc An Khê, Gia Lai – nơi phong trào Tây Sơn hình thành. Trong các hang động có lớp phân dơi tích tụ qua thời gian dài, kết quả phân tích cho thấy hàm lượng hợp chất photphat ở mức cao, đồng thời sẵn có các hóa chất cần thiết cho việc tách phốt pho, đó là silica và cacbon. Đây được xem là tiền đề hóa học cho giả thuyết về khả năng tách phốt pho từ nguồn nguyên liệu tự nhiên.
Các ghi chép dân gian từng nhắc đến hiện tượng “sáp trắng phát sáng và tự bốc cháy” hình thành ở thành hang ẩm ướt khi đốt gỗ quý sinh nhiệt lớn trên nền hang trong thời gian dài.
Nghiên cứu kỹ thuật bễ rèn hai chiều của người Việt cho thấy hệ thống này có thể tạo luồng khí nén liên tục, giúp lò nung đạt và duy trì trên 1.200°C – 1.300°C khi sử dụng nguồn nhiên liệu có nhiệt trị cao như gỗ lim, sến, táu. Đây là điều kiện cần để giải phóng phốt pho khỏi hợp chất photphat.
Song song với đó, vật liệu chịu nhiệt để làm nồi nung đất hang dơi lấy phốt pho cũng là yếu tố quyết định. Làng gốm Gò Sành (Bình Định) được cho là đã sản xuất loại vò sành có khả năng chịu nhiệt tới khoảng 1.300°C.
![]() |
| Hoả cầu Tây Sơn trong bảo tàng là bằng chứng cho thấy nhà Tây Sơn có công nghệ duy trì liên tục nhiệt độ 1300 độ C trong lò luyện phốt pho |
Một điểm mấu chốt trong lập luận của kỹ sư Vũ Đình Thanh là quy trình nung hai giai đoạn. Trước hết, nguyên liệu phải được gia nhiệt ở mức 300–500°C, sau đó mới nâng dần lên trên 1.200°C. Nếu bỏ qua bước trung gian này sẽ gây ra hiện tượng nổ nồi nung. Chính quy trình hai bước được xem như cơ chế bảo mật kỹ thuật tự nhiên, khiến người ngoài khó tái tạo sản phẩm dù nắm được lò nung.
Từ các dữ liệu phân tích và mô phỏng, giả thuyết được đưa ra: phong trào Tây Sơn có thể đã tổ chức sản xuất phốt pho trắng quy mô lớn một cách có chủ đích, không phải hiện tượng ngẫu nhiên. Tây Sơn đã mô phỏng hiện tượng đốt gỗ quý trên nền hang dơi với tất cả các điều kiện và nguyên liệu cần thiết để giải phóng phốt pho trắng (photphat, silica, than, nhiệt lượng cao trong thời gian dài), rồi ngưng tụ trong bể nước y hệt như hơi phốt pho gặp thành hang ẩm nước.
Rạch Gầm – Xoài Mút: Hỏa công trên mặt nước
Khi đối chiếu giả thuyết với trận Rạch Gầm – Xoài Mút, chi tiết “lửa cháy trên mặt nước” trở thành trọng tâm phân tích. Thuốc súng thông thường không có khả năng duy trì cháy trên mặt nước. Phốt pho trắng, nếu được phối trộn đúng cách, có thể tạo ra hiện tượng này.
Quân Đại Việt giáp chiến quân Thanh bên bờ sông Hồng, hàng đầu là ống phóng hỏa hổ bằng tre phun lửa Phốt pho xa 10m, hàng sau là pháo thăng thiên Phốt pho phóng loạt biến toàn bộ đại quân của giặc thành biển lửa.
Thử nghiệm tái tạo hỗn hợp gồm phốt pho trắng nghiền mịn, dầu rái, nhựa thông hoặc nhựa trám cho thấy hỗn hợp có tỷ trọng thấp hơn nước, nổi trên bề mặt và vẫn cháy khi tiếp xúc với oxy. Dầu rái tạo lớp màng không thấm nước, trong khi nhựa thông hay nhựa trám tăng độ bám dính lên bề mặt gỗ và vải.
Khi bắn vào thuyền gỗ, hỗn hợp bám chắc và tiếp tục cháy, ngay cả khi bị dội nước. Việc nhảy xuống sông không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ vì lớp chất cháy vẫn nổi và tiếp tục phản ứng. Đây là cơ sở để lý giải các ghi chép về hiện tượng lửa lan rộng trên sông.
Từ góc độ kỹ thuật, lập luận cho rằng tại Rạch Gầm – Xoài Mút, yếu tố hóa học có thể đã đóng vai trò khuếch đại hiệu quả hỏa công truyền thống, tạo ưu thế bất ngờ trước đối phương.
Thăng Long: Cơ chế sát thương tại Ngọc Hồi, Đống Đa
Chiến dịch mùa Xuân 1789 tại Thăng Long được xem là đỉnh cao của chuỗi lập luận này. Các mô tả trong sử liệu về khói dày đặc, lửa cháy dữ dội và thương vong lớn được đặt trong tương quan với đặc tính hóa học của phốt pho trắng.
Tại Ngọc Hồi, quân Thanh cố thủ trong đồn lũy tương đối kín. Nếu hỏa tiễn chứa Phốt pho phát nổ trong không gian hẹp, sẽ nhanh chóng triệt tiêu oxy, đồng thời tạo khói độc khiến quân Thanh, nếu không chết ngạt thì cũng bị tan biến và ngộ độc, hoàn toàn mất sức chiến đấu, lý giải cho việc sử sách ghi lại cảnh quân ta dễ dàng dồn hàng vạn quân xuống đầm lầy mà hầu như không gặp phản kháng.
Theo kỹ sư Thanh, tại Đống Đa, mật độ hỏa lực phốt pho cao, bất ngờ trong đêm, trong khi quân địch trong không gian nhỏ hẹp không biết hiện tượng thiếu oxy, vẫn hiếu chiến chờ quân Tây Sơn cận chiến mà không chạy ra khỏi đồn như ở Ngọc Hồi, nên đồng loạt tử vong vì hiện tượng ngạt oxy.
Theo sử sách nhà Thanh, Đại Việt thời hoàng đế Quang Trung có loại ống phóng hỏa hổ Phốt pho bằng tre (có thể là dùng một lần), được trang bị đại trà, tốc độ bắn tức thì nên nhanh hơn kiếm địch, bắn luồng lửa phốt pho với mạt gang xa đến 10 mét.
Sau hơn một thập kỷ nghiên cứu, kỹ sư Vũ Đình Thanh đưa ra nhận định: từ An Khê đến Rạch Gầm – Xoài Mút và Thăng Long, có thể tồn tại một chuỗi công nghệ nhất quán gồm phát hiện nguồn nguyên liệu tự nhiên, làm chủ kỹ thuật tách phốt pho, phối trộn thành hỗn hợp chiến đấu và triển khai trên chiến trường quy mô lớn.
PV